|
Hu Vo -> Lệ Thu, “Bất tích ca giã khổ...” (1/14/2004 7:44:27 PM)
|
Lệ Thu, “Bất tích ca giã khổ...” Tuệ Chương Cách đây mấy năm có một số anh chị em là cựu sinh viên Đại học Saigon và Đà Lạt của khoảng thời gian ngay trước khi Saigon sụp đổ, do cô Trương t. B.T chủ xướng, tổ chức một cuộc họp mặt ở Marblehead, một thành phố nhỏ, nổi tiếng đẹp ở phía bắc Boston. Buổi họp mặt không đông đảo lắm, nhưng không khí thân mật, vui vẻ; bè bạn lưu tán lâu ngày gặp nhau, hàn huyên, rất cảm động. Điều đáng mừng là ai ai cũng thành đạt. Nhiều người ở rất xa, tận bên Pháp, về dự; những người gần nhứt cũng từ Washington, Virginia,v.v... Trong chương trình văn nghệ, cây nhà lá vườn thì có ca sĩ kiêm nhạc sĩ Diệu Hương. Khách mời có cả Lệ Thu từ Cali lên tham gia. Vợ chồng tôi, mặc dù không thuộc nhóm cựu sinh viên như nói ở trên nhưng qua quen biết với BT, được mời tham dự, mặc dù nhà tôi ở thành phố Worcester, đi về Marblehead gần bốn giờ xe. Gần nửa đêm chúng tôi ra về. Trời khuya, đường xa, vã hôm ấy trời bắt đầu lạnh, chúng tôi thì đã già, bạn bè tiễn ra cửa, chụp hình kỷ niệm, cả cô Lệ Thu cũng đưa tiễn, dặn dò, không khí thật vô cùng cảm động. Trên đường về, tiếng hát Lệ Thu bay theo quyện lấy tâm hồn vợ chồng tôi và đứa con gái út, nênnói chuyện với nhau về Lệ Thu mãi, con đường dài thu ngắn lại mà không hay. Trước khi đi ngủ, nhà tôi gọi điện thoại báo tin đi chơi về cho con gái thứ ba, đứa mà ngay hồi nó thơ ấu, vì nét mặt hao hao giống Lệ Thu, nhà tôi cắt tóc cho con theo kiểu Lệ Thu vậy, để giữ một hình tượng nhà tôi ưa thích. Xong, nhà tôi lấy một dĩa nhạc của Lệ Thu, để lên máy nghe. Hay thì vẫn hay nhưng nghe dĩa thì không bằng nghe nhạc sống. Đó là nét đặc sắc thứ nhứt của tiếng hát Lệ Thu. Trước 1975, mặc dù chúng tôi có mấy cuộn băng Sơn ca, trong đó có một cuốn "Tiếng hát Lệ Thu” chúng tôi vẫn nghe hoài, nhưng muốn thưởng thức hết cái hay trong tiếng hát Lệ Thu, phải nghe nhạc sống. Năm 1972, khi có cuộc chiến "Mùa Hè Đỏ Lửa”, gia đình tôi phải sống xa Saigon, nhưng mỗi khi về, vợ chồng tôi thường tới nhà hàng Tự Do để nghe Lệ Thu hát, mặc dù không khí nhà hàng Tự Do không được ấm cúng như Queenbee, “giang sơn” của Khánh Ly; có điều, tiếng hát Khánh Ly, nghe băng cũng không khác mấy với nghe nhạc sống. Lý giải chuyện nầy với người bạn, tôi nói: Về kỹ thuật, người ta cho rằng tiếng hát Lệ Thu không ăn máy như tiếng hát Khánh Ly. Điều nầy rất khó hiểu và làm nhức đầu các nhà sản xuất máy hát không ít. Đã lâu, người Mỹ chế tạo ra một thứ máy gọi tên là hi-fi (high fidelity) nhưng cũng không hoàn toàn thỏa mãn người nghe. Máy móc bây giờ hiện đại lắm, nhưng tất cả những đĩa hát bây giờ, đĩa nào có Lệ Thu hát, nhà tôi cũng mua, nhưng xem ra không đĩa nào nghe cho bằng tiếng hát của Lệ Thu trong đêm họp mặt nói trên. Hôm ấy, Lệ Thu hát “Hạ Trắng”, nhiều lúc tưởng như giọng cô sẽ đứt đoạkhông lên được, nhưng rồi giọng cô vút cao lên, như một chiếc phản lực cất cánh, không phải là “tài tình” mà “thần tình”, làm cho người nghe giật mình vì sự kỳ lạ của giọng hát ấy. Sự kỳ lạ thần tình ấy, tiếng hát ấy, vẫn khoẻ, hơi vẫn mạnh, tưởng như giọng đó, hơi đó từ trong phổi, trong lục phủ ngũ tạng thoát ra một cách mạnh bạo, nhẹ nhàng làm rúng động cả tâm hồn, cảm xúc người nghe. Mấy người khách Mỹ hôm đó, ngồi cạnh chúng tôi, khi nghe LT hát xong, vỗ muốn gảy tay. Hỏi, họ nói, họ cũng là người ưa thích âm nhạc và từng nghe nhạc sống Mỹ, nhưng hiếm khi nghe người Mỹ hát hay đến như vậy. Về hát, chủ yếu người ta nghe tiếng ca hơn là hiểu lời, nhưng với nhạc Việt Nam, lời ca giữ một vai trò quan trọng trong bài hát vì ý nghĩa và tư tưởng của nó. Phải chi họ hiểu được lời ca tiếng Việt, họ sẽ thưởng thức trọn vẹn cái hay của một bài hát Việt Nam. Cách đây lâu lắm, báo chí Saigon đã so sánh tiếng hát Lệ Thu và Khánh Ly, hai tiếng hát nổi danh Saigon thời bấy giờ (Không kể Thái Thanh thuộc lớp trước). Tiếng hát Khánh Ly khỏe, rất dễ làm xoáy động tâm hồn người nghe, nhưng Khánh Ly chỉ hay khi hát nhạc Trịnh Công Sơn. Ra ngoài những bản đó, ai từng nghe Khánh Ly hát “Bên Cầu Biên Giới” của Phạm Duy hay “Xuân và Tuổi Trẻ” của La Hối, v.v... thì khó có thể đánh giá là tuyệt vời. Khánh Ly hát nhạc TCS thì lại không thể có người thứ hai bằng cô. Tôi nghe kể lại, mấy năm trước đây, khi Khánh Ly về Saigon và hát lại nhạc TCS (chỉ tổ chức trong vòng bạn hữu), hình như TCS cũng nói rằng chỉ có một mình Kkhánh Ly hát nhạc của ông là đặc sắc mà thôi. Hồng Nhung, một ca sĩ trẻ quốc nội, cũng thường hát các ca khúc của TCS, nhưng nếu so Hồng Nhung với Kkhánh Ly thì một bên là đàn chị, một bên là đứa em nhỏ chạy theo. Cũng chính nhờ tiếng hát Kkhánh Ly mà danh tiếng TCS lên cao. Hai người đó là cọng sinh, nương nhau mà lên. Người nầy đẩy, kéo người kia lên mà nếu một trong hai người vắng bóng, tụt xuống thì người kia cũng tụt theo. Đó là hiện tượng nhiều người thấy trong phong trào CPS hồi cuối thập niên 60’s ở Saigon. Tôi nhớ hình như báo chí thời đó cũng có trích lại nhận xét của Tổng thống Thiệu, cho rằng nếu không có Kkhánh Ly thì tài danh TCS cũng không lên được như thế. Điều đó không sai. Trước 1975, tôi có hai băng nhạc, đều có bài “Như Cánh Vạc Bay” của TCS. Một thì do Kkhánh Ly hát, một thì do Lệ Thu hát. Kkhánh Ly hát hay hơn, nhất là khi tôi nghe chữ “đưa”, chữ “xa”, (Từ lúc đưa em về, là biết xa ngàn trùng). Chữ "đưa" và chữ "xa" đó cũng như cả câu nầy, Khánh Ly hát hay hơn vì giọng Khánh Ly “nhão” hơn, “rền” hơn, mà phải nhão, phải rền mới diễn tả tâm trạng sầu não của cuộc chia ly. Cũng theo báo chí Saigon hồi ấy, tiếng hát, hơi phát của Khánh Ly như từ miệng mà ra, dễ “ăn” với các ca khúc họ Trịnh. Trở lại tiếng hát Lệ Thu, hình như cô có một giai đoạn đầu của đời ca hát nhiều "cay đắng”. Hôm nói chuyện với Mỹ Tín, cố giáo sư trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon trước năm 1975, ông kể cho tôi nghe nỗi “gian nan” của Lệ Thu, hồi đầu thập niên 1960, khi cô bắt đầu cuộc đời ca hát. Cô không được khán thính giả hoan hô mỗi lần trình diễn ở "Đại Nhạc Hội", thường tổ chức tại rạp Quốc Thanh đường Võ Tánh Saigon. Có một lần chán nãn, cô ta hỏi Mỹ Tín rằng cô ta có nên tiếp tục ca hát hay không, khiến ông phải khuyến khích, thúc đẩy LT tiếp tục sự nghiệp. Câu chuyện đó của Mỹ Tín làm tôi có suy nghĩ về trường họp Lệ Thu. "Đại Nhạc Hội" là nơi có không khí dành cho những tiếng hát Duy Khánh-Thanh Tuyền như qua bài dân ca “Tình Nghèo” của Phạm Duy, hay Duy Khánh với “Kẻ Ở Miền Xa” của Trúc Phương, hoặc với nhạc “Boléro” qua tiếng hát Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh, Trang Mỹ Dung, Trang Thanh Lan với những bài như “Căn Nhà Màu Tím”, “Đò Chiều” của Trúc Phương; hay "Hai màu áo”, “Rừng Lá Thấp” với tiếng hát Thanh Thúy, v.v.. . Lệ Thu vào đó sẽ bị lạc lỏng vì tiếng hát của cô không thích hợp với không khí âm nhạc “hi hè” như thế. Nam Mỹ là một nơi âm nhạc phát triển rất mạnh mẽ. Nhiều ca sĩ Mỹ nổi tiếng thì họ lại là gốc “Xì” (Spanish). “Boléro” là một điệu nhạc do người Nam Mỹ sáng tác để hát trong những buổi đình đám nhảy nhót ngoài trời. Nhạc sĩ Việt Nam “nhập cảng” loại nhạc nầy từ thập niên 40, và phát triển mạnh vào đầu thập niên 60, khi chính quyền Ngô Đình Diệm đóng cửa các phòng trà ca vũ nhạc. Từ các phòng trà, âm nhạc ra ngoài đường phố, vào các tụ điểm đông người như “Đại Nhạc Hội" thì điệu “Bolero” thích hợp nhứt. Nhạc sĩ Việt Nam lại “chế” cho điệu “Boléro” đi chậm lại một chút, để “gần” với dân ca và tâm hồn, cách sinh hoạt của người Việt Nam hơn, không “ồn ào” như đời sống của những dân tộc thuộc Châu Mỹ La-Tinh. Nhạc ở trong phòng trà ca vũ nhạc, nói nôm na là nhạc nhảy đầm, nhạc thính phòng thì Valse, Tango là thích hợp nhứt. Gốc gác Tango cũng từ nam Mỹ châu. Các chàng thủy thủ giang hồ dừng chân trên các bến cảng xa lạ trong các chuyến hải hành nối liền Nam Mỹ với châu Âu, thời kỳ Đế quốc Tây Ban Nha, đã đem theo và phổ biến điệu nhạc nầy khi họ ghé lại các hộp đêm giải trí trên một bến cảng nào đó. Các cô gái giang hồ phải nhảy Tango giỏi để cầm giữ đôi chân của khách làng chơi, phần đông là các chàng thủy thủ có máu phiêu bạt, dừng lại một hai đêm rồi đi. Khi nghe tiếng nhạc Tango trỗi dậy, đôi chân người lữ khách như bị kích thích phải bước ra sàn nhảy, quấn lấy các vũ nữ để biểu diễn những bước nhảy bay bướm nhứt, năng động nhứt, mà tự điển Webster Encyclopedic gọi là "long gliding steps" (bước lướt dài), intricate (phức tạp) và poses (điệu bộ màu mè) làm hứng khởi vũ công lẫn khách thưởng lãm. Không hiểu sao một điệu nhạc phát triển từ một môi trường thấp kém và nhiều khi dâm dật như thế lại dần dần thịnh hành trong các buổi dạ hội của đám vương tôn, công tử, tầng lớp giàu có sang trọng, trở thành một điệu nhạc sang trọng, một lối khiêu vũ sang trọng làm nhiều người mê thích. Cái "thất bại" của Lệ Thu trong các buổi "Đại Nhạc Hội", mấu chốt là ở đây. Giọng hát của Lệ Thu không thể thích hợp với giai điệu Boléro nhưng nếu Lệ Thu hát các bài Tango thì tuyệt vời, không ai sánh kịp. Do đó, khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, các vũ trường được mở cửa lại. Không khí "nhảy đầm rộn lên ở vũ trường, và ở đây, người ta không cần Boléro mà lại cần Valse, Slow và Tango. Đó là lúc Lệ Thu lên ngôi Queen, "hoàng hậu", như kiểu người Mỹ phong chữ King cho Nat (King) Cole. Những ai ưa thích khiêu vũ, khó có thể ngồi yên khi Lệ Thu cất tiếng hát với một bản Tango. Do đó, từ giữa thập niên 1960 trở về sau, Lệ Thu nổi danh như cồn cũng không có gì là lạ. Cái "sang trọng" của Tango rất "ăn" với cái "sang trọng" của tiếng hát Lệ Thu. Đó là ý nghĩa việc mời Lệ Thu của nhóm cựu sinh viên Saigon-Đalạt nói trên nay đã thành đạt, mà không mời ai khác. Tôi từng bỏ công tìm những bài Tango do Lệ Thu hát, gom chung vào một CD để nghe. Mười lần như một, xúc cảm của tôi bao giờ cũng y như vậy, khi nghe LT hát "Bài Tình Ca Mùa Đông" của Trầm Tử Thiêng. Một nỗi đau không nguôi trong đời người nhạc sĩ tài hoa ấy cho đến khi ông nhắm mắt xuôi tay. Tôi muốn hỏi những người Cọng Sản đã cảnh tĩnh như Bùi Tín, họ nghĩ gì về niềm đau ly tán gia đình của người Miền Nam khi Cọng Sản Miền Bắc "giải phóng" miền Nam. "Giải phóng" một người, một dân tộc là đem họ ra khỏi những điều bất hạnh hay đem tới cho họ điều bất hạnh? Tôi đề nghị Bùi Tín hãy nghe bài hát "Bài Tình Ca Mùa Đông" để cảm nhận cái đau của người Miền Nam mà trường hợp Trầm Tử Thiêng là một trong muôn một, cũng như Bùi Tín từng xúc cảm khi đọc bài thơ "Ta Về" của Tô Thùy Yên và ông đã chịu khó phổ biến bài thơ đó cho những người sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, chỉ biết miền Nam qua những câu chuyện bịa đặt rằng nhân dân Miền Nam bị Mỹ Ngụy bóc lột tàn tệ đến nỗi phải dùng cái gáo dừa thay chén ăn cơm. Năm 1976, tôi từ trại cải tạo Trảng Lớn bị đưa về K.4 trại Suối Máu. Đây là trại tù binh cũ thời Việt Nam Cọng Hòa, nên có một hệ thống loa phát thanh bắt quanh các khu 1,2,3, mà toàn trại nghe được. Mỗi sáng, nhà cầm quyền trại bắt đài Saigon (bây giờ gọi là đài phát thanh thành phố Hồ Chí Minh) cho tù nhân nghe. Chương trình ca nhạc của đài thường có các giọng hát nổi tiếng hồi đó như Tô Lan Phương (Có người nói là con gái nhà văn Thanh Nghị, cả hai cha con đều theo Cọng Sản), Thu Hiền, Vũ Dậu, v.v...và Lệ Thu. Lệ Thu chỉ hát mỗi một bài "Hà Nội, niềm tin và hy vọng" và bài hát nầy cứ phát đi phát lại hoài, anh em tù nhân nghe và bàn tán không ít. Có người thì chê "Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa". Có người thông cảm hơn, nói rằng, đại trượng phu như Ngô Thời Nhiệm, dòng dõi đại văn gia còn phải nói với Đặng Trần Thường: "hế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế". Vã lại, lúc bấy giờ có tin đồn nhiều nghệ sĩ Saigon hoạt động cho Cọng Sản, nổi tiếng nhứt là Kim Cương, Thanh Nga (từ vụ đại sứ Phạm Đăng Lâm bị mất xe hơi ở Paris), Thẩm Thúy Hằng, nghệ sĩ Năm Châu, các soạn giả cải lương Hà Triều Hoa Phượng; gánh hát Dạ Lý Hương kinh tài cho Cọng Sản, v.v... Sau đó ít lâu, chính quyền quân quản Saigon cho thăm nuôi, gia đình tôi lên thăm, tôi được biết hai việc: Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng thường lui tới chơi với các con tôi vì ông muốn tham gia chuyến vượt biên do gia đình tôi cùng bạn bè, bà con tổ chức. Ông hẹn với các con tôi qua tới Mỹ "bác cháu mình sẽ lập một gánh hát rong". Ông hiện bị kẹt lại, đang trốn tránh chính quyền Cọng Sản, sau khi đã cho vợ con đi rồi. Thứ hai là anh Lê Hưng, nguyên ca sĩ đài phát thanh Hà Nội, người thường tranh tài với Đoàn Chỉnh trước khi Đoàn Chỉnh đi B (vào Nam) nói với gia đình tôi khi Lệ Thu ra Hà Nội hát bài "Hà Nội, niềm tin và hy vọng", thì người Hà Nội cũ, (dân Hà Nội chính cống, không di cư hồi 1954) bàn tán xôn xao với nhau rằng, hơn hai chục năm nay, chưa từng được nghe ai hát hay như thế. Một cô "ca sĩ nhạc vàng" hát hay như thế thì nhạc vàng cũng là hay lắm và chính Lê Hưng khi vào "thành phố Bác" lại đi tìm nhạc vàng để "nghiên cứu" (giả nói nghiên cứu để che mắt chính quyền Cọng Sản). Nghe tôi thuật chuyện lại câu chuyện đó sau khi thăm nuôi, anh Lê Văn Chương (khoá 17 Võ bị, nguyên sinh viên viện đại học Đàlạt, nổi tiếng một thời đánh guitar hay nhất tại thành phố nầy), cười to lên sung sướng. Sau đó Chương nói: Trong cuộc đấu tranh văn hóa, chúng ta đã thắng không chỉ ở Saigon mà ngay tại Hà Nội. Câu nói của Chương làm tôi nghĩ tới trường hợp vua quan nhà Mãn Thanh bị "Hán hóa" sau khi họ làm vua ở Bắc Kinh. Sức mạnh văn hóa rất mãnh liệt, bền lâu và sâu sắc hơn sức mạnh quân sự là vậy. Thắng lợi quân sự chỉ là nhất thời, sau đó Cọng sản Bắc Việt sẽ gục ngã trước sức tấn công dũng mãnh của văn hóa miền Nam mà văn hóa đó, lại chính là văn hóa dân tộc, không mang tính ngoại lai, thù hận. Chúng ta nghĩ thế nào về việc Lệ Thu ra Hà Nội hát làm cho lòng người Hà Nội xúc động, xôn xao, trong khi chính sách tuyên truyền của Cọng Sản, cái gì miền bắc cũng ưu việt, hơn hẵn; ngược lại, cái gì của miền Nam cung xấu, cũng dở, cũng tệ. Lệ Thu đã chứng minh ngược lại, đã đánh bại đường lối tuyên truyền của Cọng sản. Đó không phải là bước đầu Lệ Thu "mở mắt" cho người miền bắc nói chung và Cọng Sản Hà Nội hay sao, dùng "giáo Tàu đâm Chệt" hay sao!? Nhân dịp kỷ niệm 40 năm cuộc đời ca hát của Lệ Thu, tôi muốn bỏ ra ngoài những gì thuộc về chính trị, tuyên truyền, để bày tỏ lòng cám ơn Lệ Thu; từ những lời dặn dò con gái út tôi lái xe cẩn thận khi đưa chúng tôi về vào lúc nửa đêm, sau buổi họp mặt cảm động của các cựu sinh viện Saigon-Đàlạt nói trên; sự cám ơn đó, được bày tỏ không chỉ qua những băng, dĩa nhạc có tiếng hát của cô chúng tôi nghe mỗi tuần, mà cả những khi nhìn cô hát từ trước 75 cũng như lần nghe hát vừa qua. Trong cách trình diễn, bao giờ Lệ Thu cũng bày tỏ "khổ công" hơn các ca sĩ khác, thường làm cho tôi nghĩ tới câu thơ Tàu: Bất tích ca giã khổ Đản thương tri âm hy (Không tiếc công người ca khổ nhọc, chỉ tiếc thiếu người nghe (tiếng hát) mà thôi). Chữ "tri âm" ở đây, có nghĩa là nghe và hiểu tiếng hát, tiếng đàn, là cảm xúc, tâm tư của người nghệ sĩ. Đời người hiếm khi tìm được một kẻ tri âm, khiến Bá Nha phải đập vở đàn khi nghe tin Tử Kỳ qua đời. Qua "tri âm" đó, Nguyễn Du đã mô tả tâm sự cô Kiều trong cuộc đời lưu lạc bằng hai câu thơ: Ai tri âm đó mặn mà với ai! Đầu mùa tuyết 2002 hoànglonghải/tuệchương Nov 14, 2002 Nguồn: http://www.vietnamdaily.com/
|
|
|
|