< Login:: khanhly.net:: Góc riêng:: Thư riêng:: Ghi danh:: Các thành viên:: Tìm kiếm:: Log Out>

Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN

 
Tham gia dưới tên: Guest
Cùng đọc bài với bạn: không
  In Ra
Diễn Đàn Chính >> [Âm nhạc, Văn học-Nghệ thuật] >> Thơ >> Thơ xưa >> Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN Trang: [1]
Tên login
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 6/12/2007 1:57:35 PM   
TieuMuoi


Thành viên đang: offline

QUA ĐÈO NGANG
● Bà Huyện Thanh Quan
● Hoàng Oanh diễn ngâm



Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta...



THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ
● Bà Huyện Thanh Quan
● Hồ Điệp diễn ngâm



Tạo hóa gây chi cuộc hí trường?
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.


CẢNH CHIỀU HÔM

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu, sương sa khách bước dồn
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.


CẢNH ĐỀN TRẤN VÕ

Êm ái chiều xuân đến Trấn đài
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng
Một vũng tang thương nước lộn trời
Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn
Nguồn âm trăm trượng dễ khơi vơi
Nào nào cực lạc là đâu tá?
Cực lạc là đây, chín rõ mười.


CẢNH THU

Thánh thót tầu tiêu mấy giọt sương
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh um cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ
Bầu dốc giang sơn say chấp ruợu
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ
Cho hay cảnh cũng ưa nguời nhỉ
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.


CHÙA TRẤN BẮC

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau
Mấy tòa sen rớt mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?
Khéo ngẩn nhơ thay lũ trọc đầu.


NHỚ NHÀ

Vàng tỏa non tây, bóng ác tà
Ðầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác, chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà
Còi mục thét trăng miền khoáng dã
Chài ngư tung gió bãi bình sa
Lòng quê một bước càng ngao ngán
Mấy kẻ tình chung có thấu là.


TỨC CẢNH CHIỀU THU

Thấp thoáng tàu tiêu mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ
Ô hay !Cảnh cũng ưa người nhỉ?
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.

***

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm, huyện Hoàn long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Bà là vợ ông Lưu Nghi, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Lưu Nghi đỗ cử nhân năm 1821 (Minh Mệnh thứ 2), làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh, tỉnh Thái Bình), vì vậy người ta thường gọi bà là "bà huyện Thanh Quan". Dưới triều Tự đức, bà được mời về kinh nhậm chức Cung trung giáo tập để dạy các công chúa, cung phi. Như vậy, bà sống vào khoảng giữa hai triều Minh Mệnh-Tự Ðức.

< Được sửa bởi: TieuMuoi lúc 6/12/2007 2:36:55 PM >
Bài thứ: 1
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 7/12/2007 2:20:37 AM   
Hu Vo

 

Thành viên đang: offline

Trích đoạn từ: TieuMuoi
CẢNH THU

Thánh thót tầu tiêu mấy giọt sương
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh um cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ
Bầu dốc giang sơn say chấp ruợu
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ
Cho hay cảnh cũng ưa nguời nhỉ
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.


TỨC CẢNH CHIỀU THU

Thấp thoáng tàu tiêu mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ
Ô hay !Cảnh cũng ưa người nhỉ?
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.


Tiểi muội muội và cả nhà nhà ơi…

Hư này sục sạo đống tân thư trong nhà và trên mạng nhện, ngâm cứu ra thấy thơ Bà Huyện Thanh Quan có nhiều chuyện vui. Một bài thơ của bà thường có vài ba tựa đề, chẳng hiểu được là tại vì các nhà sưu tầm, mỗi vị vì tình ý riêng mà cảm cảnh đặt cho 1 tên hay chính nữ sĩ đã đặt cho tác phẩm của mình dăm ba cái tên như thế. Chuyện này thì để dành cho các nhà làm sử học hay văn học ( í là văn học sử) xử lý, chứ Hư này chỉ đưa ra đây cả nhà biết với nhau cho vui thôi, anh chị em nào có thêm tài liệu khác thì cho Hư biết, trân trọng cảm tạ .

- Cảnh chiều hôm = Buổi chiều lữ thứ
- Cảnh thu = Tức cảnh chiều thu
- Chùa Trấn Bắc = Chơi chùa Trấn Quốc = Trấn Bắc hành cung = Trấn Bắc hoài cổ
- Đền Trấn Võ = Cảnh Đền Trấn Võ = Chơi đài Khán Xuân
- Nhớ nhà = Chiều hôm nhớ nhà
- Thăng Long hoài cổ = Thăng Long thành hoài cổ = Hoài cổ

(chỉ có bài “Qua Đèo Ngang” là 1 tựa không thay đổi)

_____________________________

"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."

(trả lời với: TieuMuoi)
Bài thứ: 2
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 7/12/2007 2:24:26 AM   
Hu Vo

 

Thành viên đang: offline

Trích đoạn từ: TieuMuoi
● Bà Huyện Thanh Quan

CHÙA TRẤN BẮC

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau
Mấy tòa sen rớt mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?
Khéo ngẩn nhơ thay lũ trọc đầu.

Chùa Trấn Quốc (Đền Trấn Quốc) của Bà Hồ Xuân Hương

Ngoài cửa hành cung cỏ dãi dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau!
Một tòa sen lạt hơi hương ngự,
Năm thức mây phong điểm áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi vẫn rộn.
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa, cảnh cũ đâu đâu tá?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu


Trên vài trang nhà trên mạng, Hư thấy bài này đề tác giả là Bà Huyện Thanh Quan với lời chú thích “Câu 8 “Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu” trong quyển "Nữ sĩ Việt Nam" của Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền ghi là "Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu."

Thiển nghĩ câu: Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu đượm nặng “mùi” Hồ Xuân Hương.Thì có lẽ tác giả bài thơ là nữ sĩ họ Hồ, không biết Anh Vũ, expert chuyên trị thơ HXH (!) và quý vị nghĩ sao?

_____________________________

"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."

(trả lời với: TieuMuoi)
Bài thứ: 3
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 7/12/2007 2:26:42 AM   
Hu Vo

 

Thành viên đang: offline

Trích đoạn từ: TieuMuoi

● Bà Huyện Thanh Quan
CẢNH ĐỀN TRẤN VÕ

Êm ái chiều xuân đến Trấn đài
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng
Một vũng tang thương nước lộn trời
Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn
Nguồn âm trăm trượng dễ khơi vơi
Nào nào cực lạc là đâu tá?
Cực lạc là đây, chín rõ mười.

Chơi đền Khán Xuân - Hồ Xuân Hương

Êm ái chiều xuân tới khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai!
Ba hồi triêu mộ chuông gầm sóng,
Một vững tang thương nước lộn trời.
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rõ mười.

Tiểu muội và anh Vũ tàng trữ nhiều tài liệu xưa … có suy ra được bài này đích thật của ai không? Huhu ! Chẳng lẽ 2 nữ sĩ cùng suy nghĩ giống nhau đến như thế à.

_____________________________

"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."

(trả lời với: TieuMuoi)
Bài thứ: 4
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 9/14/2007 4:28:10 AM   
hodinhvu

 

Thành viên đang: offline

Xin lỗi chị Hư Vô. Tôi không ghé vào trong này nên không biết câu hỏi của chị bị "treo" lâu quá rồi mà chưa trả lời. Đây cũng không phải là câu trả lời, mà tôi chỉ trích dẫn tài liệu để chị tham khảo thôi.







Có rất nhiều tài liệu sách vở nghiên cứu về các tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan. Dựa theo một tài liệu và bảng liệt kê phía trên, thì từ năm 1963 trở về trước, đã có ít nhất 9 cuốn sách ghi lại các tác phẩm của bà. Trong những cuốn sách đó, tựa của một số tác phẩm lại không giống nhau.
Thí dụ: bài Thăng Long Hoài Cổ, Hoài Cổ, Thăng Long Thành Hoài Cổ là một bài với những tựa khác nhau.

Điểm đáng nói nhất là một số bài thơ của bà lại được (bị) ghi chung vào những sách ghi lại thơ của Hồ Xuân Hương, như cuốn Xuân Hương thi tập 1921 gồm 40 bài, trong đó có một số thơ của Lê Thánh Tôn, Nguyễn Khuyến, và có cả thơ của Bà Huyện Thanh Quan nữa.

Đó là lý do sau này có nhiều tranh luận về tác giả của một số bài thơ. Người thì nói là bài đó là của Hồ Xuân Hương, người khác lại nói là của Bà Huyện Thanh Quan. Nếu bám theo chân một số học giả có uy tín thì tạm thời hãy tin vào cuốn sách quốc ngữ Văn Đàn Bảo Giám, do ông Trần Trung Viên biên soạn xuất bản lần đầu năm 1926, in lại lần thứ ba năm 1934, có sự tham gia chỉnh lý của Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, và Trần Trọng Kim. Theo cuốn này thì Bà Huyện Thanh Quan để lại bảy bài thơ (coi trong bảng liệt kê).

(trả lời với: Hu Vo)
Bài thứ: 5
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 9/14/2007 5:31:16 AM   
TieuMuoi


Thành viên đang: offline

Tỷ HUVO và HỒ huynh thân mến,

Lâu nay Muội cũng không vào thăm Bà Thanh Quan nên cũng chưa biết câu hỏi của tỷ HUVO. Thật là có lỗi quá chừng.

Theo Phạm Thế Ngũ thì thơ của bà Huyện để lại có 6 bài. Ông Phạm Thế Ngũ viết:

<<Ngoài ra bà còn làm một số bài thơ nôm còn lưu lại ngày nay, tuy không nhiều song cũng đủ đánh dấu một thi tài lỗi lạc, và tạo thành một thi nghiệp có giá trị vững vàng trong văn học sử. Tất cả có sáu bài với những nhan đề thường thấy trong các sách thi tuyển như sau:
+ Thăng Long Thành Hoài Cổ
+ Qua Đèo Ngang Tức Cảnh
+ Chiều Hôm Nhớ Nhà (2 bài)
+ Cảnh Thu
+ Chùa Trấn Bắc.>>

(Phạm Thế Ngũ , Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, quyển 2, Quốc Học Tùng Thư, Saigon, không ghi năm xuất bản, trang 278 và 279)

(trả lời với: hodinhvu)
Bài thứ: 6
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 4/20/2008 6:14:46 PM   
hodinhvu

 

Thành viên đang: offline

Của một đồng công một nén. Cám ơn Mai Anh đã bỏ nhiều công sức đánh máy lại những bài viết này !








CHÚ GIẢI – PHÂN TÍCH.



Câu 1 (phá đề): Trường-hợp thời gian: cảnh tịch-liêu quạnh vắng của trời chiều bảng lảng, hoàng-hôn mịt-mùng.

Câu 2 (thừa đề): Những âm-thanh khêu-gợi tình hoài cảm: tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn. Âm-thanh vẳng lên giữa nhòa-phai cô-tịch, càng gây thêm vắng vẻ cho buổi chiều, và như một lời thở-than cô đơn của nhân-thế.

2 câu thực: Hai chi-tiết cảnh tiêu-biểu: kẻ về viễn phố người lại cô thôn; chiều về, đây là giờ nghỉ-ngơi: những tiếng gác mái, gõ sừng, về lại, gây chút yên lòng, có thể gọi là đầm-ấm. nhưng với riêng thi-nhân lại thấy lạnh lòng thêm. Ai về, ai lại, ấm-cúng dưới mái gia-đình, mà riêng ai vì quê hương cách vạn bến bờ mà đành chịu cô đơn, thui-thủi… Hai câu thực chuẩn-bị cho tứ-thơ của hai câu luận càng chan-chứa cảm-hoài.

2 câu luận: Hai chi-tiết cảnh cho thấy biết bao xa vắng mênh-mông trước thị-quan người thờ-thẫn; chim mỏi cánh bay giữa gió cuốn, khách dồn bước vội dưới sương sa. Chim bay về đâu, mà người bước về đâu? Không còn cô thôn. Không còn viễn phố. Chim bay mỏi, khách bước dồn là hai hình-ảnh của lạc-loài lữ-thứ, giữa gió cuốn sương sa, ngàn mai, dặm liễu… đối-kháng với cảnh đầm ấm ở trên. Thi-nhân ngậm ngùi nhận ra trong hình-ảnh con chim bạt gió và người khách tha hương, hình-ảnh của chính mình phiêu-dạt nơi đồng đất quê người, đường về cố quận rất xa-xôi, người đương thèm-thuồng cái tình-cảnh của kẻ go sừng, gác mái: họ về nơi yên-nghỉ, mà riêng mình vẫn mỏi mắt chờ mong.

2 câu kết: tiếp diễn ý hai câu luận khép bài thơ lại trong nỗi buồn-đau của kẻ “chốn Chương-đài, người lữ-thứ”; buồn vui, ấm lạnh, ngọt bùi, đắng cay, không cùng nhau chia-xẻ, không cùng nhau kể-lể để an-ủi cho nhau bớt thấy lạnh vắng giữa vô cùng.


Một chút nhận-xét về kết-cấu và bút pháp của tác-giả

Những hình-ảnh bà Huyện chọn để ghi lại trong lời thơ đều có tính cách tượng-trưng. Bà không nhìn cảnh-vật với đôi con mắt của nhà văn tả thực Bà khác Hồ Xuân Hương ở chỗ đó – Không tỉ-mỉ quan-sát, và tỉ-mỉ ghi lại những chi-tiết cảnh. Không. Bà nhìn cảnh-vật với đôi con mắt của tâm-tư, của lòng hoài cảm; ngư-ông và mục-tử, chim bay mỏi và khách bước dồn có thể có thật, nhưng cũng có thể bà không thấy thật ở bên ngoài. Nhưng có điều chắc, là bà đã thấy chúng trong tâm-hồn mình, trong lòng nhớ-thương lai-láng.

Do đó, những từ-ngữ cổ-kính: viễn phố, cô thôn, ngư-ông, mục-tử, lữ-thứ, Chương-đài, rất đắc dụng ở đây. Nó không tả được cảnh, nhưng nó nói trọn-vẹn được tâm hồn. Thì như thế nó còn "thật” hơn cảnh thật. Vì cảnh phải được nhìn qua xúc-cảm dào-giạt của người thì mới thật là cảnh sống. Và nói cho cùng, theo như lời các nghệ-sỹ của học-phái ấn-tượng thì cảnh-vật chỉ là một trạng-thái của tâm-tư (le paysagen, est qu’un état d’âme).



GIẢNG-LUẬN



Hoàng-hôn nhớ nhà. Ai trong đời đã không từng biết qua nỗi buồn-nhớ đó. Cảnh chiều tà cô-tịch, mọi vật nhòa trong bóng vàng của nắng quái, càng lúc càng mờ dần, để rồi chìm s6u vào trong màn đêm tăm-tối. Xa nhà, xa quê-hương, chính những giờ phút đó là những giờ ray-rứt tâm-hồn người nhiều nhất. Bao nhiêu niềm hoang-mang như chờ lúc ngày tàn để cùng nhau sống dậy chiếm-cứ tâm-tư với bao nhiêu kỷ-niệm của một quá-khứ… gần-gũi hay xa-xôi… từ nay vĩnh-biệt… Chiều về nhắc nhở phôi-pha. Nghìn năm vẫn thế. Chiều dẫu giữa khung-cảnh quê nhà, người dẫu có được ngồi bên cạnh những kẻ thân-yêu, nằm giữa tình luyến-thương của bè-bạn, chiều cũng đã gây thảng-thốt bao lần:

“Ôi! Nắng vàng sao mà nhớ-nhung!
Có ai đàn lẻ để tơ chùng
Có ai tiễn-biệt nơi xa ấy,
Xui bước chân đây cũng ngại-ngùng”.


Ngồi đây mà động lòng nhớ nhung những đâu đâu. Quê-hương là đây, mà lòng vẫn như ngùi thương một cố-quận nào biệt-cách; quê-hương của tuổi thơ? Quê-hương của tình-mộng? Quê-hương xa vắng của một kiếp nào trước thuở sơ sinh người về đây sống giữa đời lạnh-lẽo?

Chiều. Hình-ảnh của nhạt-phai, của hờ-hững, của ngày vơi, giờ tà, năm tàn, tháng lụn… Huống nữa là chiều của kẻ lữ-thứ lang-thang. Người càng cảm thấy rõ biết bao, mình nằm trên một giòng nước chảy, mang đi đến bờ nào những yêu-thương của linh-hồn người, từ nay mất hút… Càng ngày càng xa biết bao! Xa tình, xa mộng, xa đằm-thắm yêu-thương, xa cả niềm xót-xa ray-rứt. Núi đồi, sông bể, chia-biệt mấy bờ!

Chao! Nếu người không tìm về lại được thì ít nữa khúc hát của người sẽ xóa bỏ vô hạ của không-gian, và kéo gần thời-gian lại:

“Tâm-tình một nẻo quê chung,
Người về cố-quận, muôn trùng ta đi.”


Lời thơ của bà Huyện Thanh-Quan kín-đáo hơn, nhưng vẫn không kém phần nồng-nàn tha-thiết. Lời thơ gói-ghém kỹ hơn mối tình của lòng người như chưa chịu đành thổ-lộ. Và chính vì lẽ đó, mà giọng-lời dè dặt càng có một âm-hương sâu-sắc lạ thường… Và chỉ chịu về phùng-ngộ với tâm-hồn ta để mà đồng thanh họa điệu, là chỉ những bận nào trên giòng đời trôi-giạt, người động lòng cố-quận, để tâm-hồn hòa theo cảnh-vật, và thẫn-thờ thị-giác mãi dõi theo đến cuối phương đoài bóng một làn mây trắng mang về chốn cũ những ngùi-thương.

Chiều trời bảng-lảng bóng hoàng-hôn

Áng mây Tần đến giờ này cũng sắp nhòa trong bóng hoàng-hôn bảng lảng. Và thôi, thị-giác càng thảng-thốt nhìn, tuyệt vọngl, mông lung… Và lòng rộn lên theo những âm-thanh nao như càng thiết-tha khêu-gợi “Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn…”. Phải chăng đấy là lời thở-than thoi-thóp của linh-hồn không lìa được hận trước mênh-mông. Đất trời hoang-vắng quá! Những âm-thanh “tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn…” càng gây thêm quạnh-quẽ, càng nhắc người nghe rõ giọng tịch-liêu.

Hai câu thơ đầu, u-uẩn, mờ-nhòa theo màu-sắc, theo âm-thanh, theo từ-ngữ cổ kính đoan-trang nhịp theo âm-thầm của tiết-điệu, đã dịu-dàng đưa ta bước vào trong lặng-lẽ cảm-thông, giữa điện-đài sâu-kín của tâm-tư người hoài cảm:

Chiều trời bảng-lảng bóng hoàng-hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn…


Phải nghe lời thơ vẳng lên tự mỗi cõi lòng thương-nhớ, phải nằm giữa đáy lòng vạn-vật buổi hoàng-hôn, phải nghe-thấy trước, và nhìn-thấy trước cả một đêm tối sắp mịch-mùng giăng trải khắp nơi, và bao-phủ hết mọi vật, mọi người, cả sương chiều, cả nắng quái, cả chân trời, cố-quận với áng mây phương đoài cũng sắp nhòa hết trong tăm-tối âm-u, thì mới nghe thấy cái giây-phút hoàng-hôn bảng lảng nói hết những gì, và cái hình-ảnh

Gác mái ngư-ông về viễn phố,
Gõ sừng mục-tử lại cô thôn.


Sẽ càng thân-mến biết bao?
Lòng cảm cựu của người lênh-láng trong những âm-thanh cổ-kính “ngư-ông, viễn phố mục-tử, cô thôn”. Những hình-ảnh ấy mang màu-sắc của tâm-tư, của ngùi-thương quá-khứ. Người không nhìn thấy một ông chài thật sự nào về đâu, cũng không thấy đứa trẻ chăn trâu nào thật sự đương ngồi trên mình trâu nghêu-ngao hát. Không. Những ông chài và trẻ chăn trâu này là những “ngư-ông” và “mục-tử” của lòng cảm cựu mang mang. Nó là linh-hồn của quá-khứ. Người nhìn với đôi mắt sầu nặng cảm-hoài, qua làn lệ người nhìn thấy cảnh chập-chờn sau làn sương lạnh của thời-gian. Đẹp biết bao, lời thơ của bà Huyện. Chỉ trong thơ bà mới có những hình-ảnh diễm ảo ấy, cũng như chỉ trong Đoạn-trường tân-thanh mới có những “đỉnh Giáp, non Thần…” những “ngọc đường kim mã…”. Không có những lời nào mới cho bằng những từ-ngữ “sáo” được thiên-tài xử-dụng huyền-diệu vô song. Sao ta lại nỡ trách bà Huyện hờ-hững với tiếng nước nhà. Cái tài của bà – không, cái tấm-tình son-sắt của bà là đem tơ-lụa của người để dệt nên gấm-vóc cho mình, mặc vào cho linh-hồn đất nước. Đẹp biết bao? Lung-linh và cảm-động biết bao?

Gác mái ngư-ông về viễn phố,
Gõ sừng mục-tử lại cô thôn.


Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu, chỉ có thể phát ra tự một tấm linh-hồn rất đẹp trong nỗi nhớ-nhung, tìm trong những ảnh-hình quen-thuộc những gì “nối liền quá-khứ và hiện-tại, thực và mơ” như lời giáo-sư Nguyễn Sỹ Tế. Ông đã nhận ra cái vẻ đẹp của thơ bà Huyện như thế nào: “một vẻ đẹp u-trầm, lặng-lẽ, thanh-tao, vừa xa xăm lại vừa rất quen thuộc…”. Thật là những lời bàn đích-đáng lạ-lùng.

Gác mái ngư-ông về viễn phố,
Gõ sừng mục-tử lại cô thôn.


Ngư-ông về viễn phố, mục-tử lại cô thôn, họ trở về trong gian nhà ấm-cúng; những hình-ảnh ấy có đem lại ấm lòng cho kẻ lữ-thứ được hay không? Có lẽ vừa rất có, mà cũng vừa rất không. Người muốn sống chung hòa mình vào đời kẻ khác, vừa buồn-tủi cho mình vẫn không thỏa ước chờ-mong. Thật thế, chút dịu-hiền đầm-ấm trong chút mộng mong-manh, sẽ tan vội trong hai câu thơ sau, đã mênh-mang hóa cảnh-vật khơi diễn đến vô hạn xa vắng của nghìn trùng:

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.


Thì ra, người có về viễn phố, kẻ có lại cô thôn, nhưng riêng ai vẫn cô đơn lạnh-lẽo như cánh chim bạt giữa gió cuốn, nhưng lữ-khách lạnh lòng dồn bước vội dưới sương sa. Ngàn mai và dặm liễu hãy chứng-giám cho mối tình người lữ-thứ… Vẫn lại vô cùng trong những vần châu ngọc. Và cũng chỉ trong Đoạn-trường tân-thanhmới có những vần tương-tự mà thôi;

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi…

Nhưng cái tâm-hồn của người con-gái họ Vương lưu-lạc đã mang cái khổ não gia-giết không cùng, và người đã nhìn cảnh qua làn lệ máu; và nỗi đau xót vô hạn không cho phép người để tư-tưởng mình nung-nấu được xa-vắng của tâm-tư. Trái lại, lời thơ của bà Huyện mênh-mang hơn, vì người nhìn cảnh với một tâm-hồn ung dung điềm-đạm. và những ngùi-thương của tâm-tình đã xen hòa sắc-thái của tư-duy trong niềm xót-thương cho cả trần-hoàn tạo vật, hầu đến chỗ xa vắng của siêu hình. Người có khóc-than cho thân-thế thì cũng than-khóc rất ung dung, cảnh-vật còn được nhìn qua một thị-quan sáng-suốt, cảnh-vật không được nhìn qua làn lệ máu, làn lệ lạnh hơn, không trào ra ngoài mi mắt, mà “len tỉ-tê thầm trộm chảy quay vào…”

Tội và đáng thương biết bao! Cái cánh chim chiều giữa gió cuốn ngàn mai và thê-thương biết bao cái tâm-sự người lữ-khách bước dồn dưới sương sa dặm liễu. Người nhỏ-bé vô cùng. Mà đất-trời thì mênh-mông vô hạn. Tình người bị chia biệt, người chỉ còn biết quay vào tìm an-ủi trong tâm-tư. Mà tại sao giữa cái vô hạn đất-trời, và vô hạn của lòng người, sự chênh lệch vẫn không làm sao hòa-giải được, để trọn một kiếp mình người sẽ cứ thấy lòng bận-bịu vì những mối bận tâm. Đáng lẽ ra cái vô hạn của thời-gian phải giữ phần-vị điều-hòa thì mối mâu-thuẫn được giải quyết ngay. Ác sao! Thời-gian lại về hùa với không-gian để mà đánh bại đời sống ngắn-ngủi của người, và hăm-dọa một sớm một chiều xóa mất những tha-thiết nồng-nàn của một quả tim son-sắt…

“Mặt nước thời-gian rồi xóa mất,
Lòng ta chết lạnh những năm kia…”


Lòng sắt-son của người sẽ chết lạnh. Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn. Tấn bi-kịch ngàn năm của con-người vẫn là chừng đó: kẻ chốn Chương-đài, người lữ-thứ. Và lời thở than vô hạn của người từ đó vẫn kết tinh thành những vần châu-ngọc trong văn chương.




(Trong cuốn Một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan của giáo sư Bùi Giáng, nhà sách Tân Việt xuất bản năm 1957).

< Được sửa bởi: hodinhvu lúc 4/25/2008 3:26:35 AM >

(trả lời với: TieuMuoi)
Bài thứ: 7
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 5/15/2008 10:09:12 PM   
hodinhvu

 

Thành viên đang: offline

Cám ơn Mai Anh đã đánh máy bài viết này.








CHÚ-GIẢI


Câu 1 (phá đề): Trường-hợp không-gian và thời-gian: Đỉnh đèo Ngang lúc xế tà.
Câu 2 (thừa đề): Một nét phác-họa tổng quát về cảnh: cỏ cây chen đá, lá chen hoa… Một cảnh bát-ngát, phong-phú của thiên-nhiên, mãnh-liệt của núi rừng, cây là chen nhau nô-nức vươn lên sống. Chúng ta để ý: tiếng chen điệp lại 2 lần, phụ âm c điệp lại 2 lần (cỏ, cây), âm-vận a, oa, điệp lại 3 lần (đá, lá hoa). Câu thơ vì thế rất rộn-ràng trong âm-hưởng, trong nhịp-điệu, nói được rất nhiều nỗi ngơm-ngớp của nữ sỹ xưa nay vốn không rồi cửa các, buồng the, lần đầu tiếp-xúc với nguồn sống dào-giạt của vạn vật.
Nói tóm lại, 2 câu đề đã giới-thiệu được cảnh và nói được nỗi rộn-ràng của người lúc vừa tiếp-xúc với cảnh.

2 câu thực “Lom-khom dưới núi….”

Những chi-tiết này kể ra không có gì đặc sắc cả. Nhưng nếu ta hiểu cái hồn thơ của bà Huyện, thì nó lại đặc-sắc vô cùng. Nó đúng với cái tinh-thần của hồn-thơ. Bài thơ không cốt tả cảnh, mà cốt tả tâm-tình của lữ-thứ cảm thấy lẻ-loi, cô-đơn, nhỏ-bé, trước mênh-mông bát-ngát của đất trời. Thì như thế vài chú tiều lom-khom dưới núi nhỏ-bé, lạc-lõng biết bao, và rợ mấy nhà lác-đác bên sông lạc-loài biết mấy. Con-người như bị xóa nhòa giữa vạn vật: người là một hạt cát-bụi giữa mịt-mùng.

Nên để ý lối đảo ngữ đặc-biệt ở đây, càng nói được cái chỗ vô nghĩa của kiếp người: Lom-khom dưới núi tiều vài chú. Động-từ đứng trước chủ-từ, loại-tự lại đứng sau danh-tự. Ta chưa thấy người đã thấy cái đau-khổ của một kiếp người “lom khom”. Mới tội làm sao! Lom-khom để nhọc sức làm gì thế nhỉ? Ai? – Không phải vài chú tiều, mà “tiều vài chú” ! Mới tủi-nhục làm sao! Con-người hầu như không phải là con-người. Nói “tiều vài chú” cũng như nói “rợ mấy nhà”, “đá mấy hòn”, “bụi mấy hạt”

2 câu luận “Nhớ nước đau lòng”.

Hai âm-thanh thê-thiết trỗi dậy giữa hoang-liêu, mang nặng một thứ tình nhớ-thương khôn xiết. Có “đau lòng”“mỏi miệng” cũng không lấp được nhớ-thương.
Hai câu luận tiếp ý hai câu thực thật là khéo: 2 câu trên nói cái buồn-tủi, 2 câu dưới nói nỗi thê-thương… ở trên là đau khổ, ở dưới là thở than.

Trong hai câu này, tác-giả cũng lại sử dụng phép đảo ngữ: thương, nhớ, đứng ở đầu câu, tiếp theo là đau lòng, mỏi miệng, chủ từ là quốc quốc,gia gia lại ở sau. Chưa biết âm-thanh là âm-thanh gì, đã nghe đầy giọng nhớ, thương của đau lòng, mỏi miệng, rồi cuối cùng mới biết là quốc quốc, gia gia với âm-hưởng réo-rắt, não-nùng ngân dài ra không dứt.

2 câu kết: Người nhỏ-bé chồn chân, dừng bước, đối diện với mênh-mông mà càng ngơm-ngớp, riêng ôm một mãnh tình không biết san-xẻ cùng ai.




GIẢNG-LUẬN


“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà”

Đèo Ngang đã nhiều lần nặng duyên-nợ với văn-chương. Nó phùng-ngộ với Lê Thánh-Tông rồi với Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh-quan, sau này với Nguyễn Khắc Hiếu, và sau này nữa… Nó còn phụng-hiến nhiều vần châu ngọc cho những chiến-sỹ lang-thang trên nẻo đường đất nước. Sau này nó lùi vào phía sau, và mang tên khác: Ba-rền, U-bò…

“Tôi trên Ba-rền xuống
Chị dưới Ba-rền lên,
Tình-cờ gặp-gỡ đôi bên,
Một chiều sương lạnh mông-mênh núi rừng”.


Giờ đây chúng ta hãy thư-thả cùng cha ông dừng lại trên đỉnh đèo Ngang mà ngậm-ngùi ti chút. Đầu tiên với Lê Thánh-Tông chúng ta hãy “qua đèo Ngang” bát ngát:

Bãi thẳm ngàn xa, cảnh vắng teo,
Đèo Ngang đợi bể, nước trong veo.
Thà là cúi xuống, cây đòi sụt,
Xô xát trông lên, đá muốn trèo.
Lảnh-chảnh đầu ghềnh chim vững tổ,
Lanh-đanh cuối vựng cá ngong triều.
Cuộc cờ kim-cổ chừng bao nả,
Non nước trông qua vẫn bấy nhiêu.


Và giờ, cùng Hồ Xuân Hương ta trèo qua đèo Ngang tình tứ:

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạo cảnh chei-leo.
Cửa son đỏ loét tùm-bum nóc,
Hòn đá xanh rù lún-phún rêu.
Lắt-lẻo cành thông cơn gió thốc
Đằm-đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền-nhân quân-tử ai mà chẳng,
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.


Và đèo Ngang thời cơ-giới sau này, vẫn không mất phần nồng-nàn, thơ-mộng. Kỷ-nguyên nguyên-tử càng hăm-dọa thiên-nhiên thì mối tình của người vẫn như càng thêm thắm-thiết. Phải trả thù khoa-học mà lị! Mà trường-hợp này khoa-học lại như tiếp giáo cho Ly Tao để tấn công lại mình. Và nàng Thơ lâng lâng tung-cánh. Chiếc xe hơi kể cũng rộng tình:

Xe hơi đã tới đèo Ngang,
Ấy qua Hà-Tĩnh, đường sang Quảng-Bình.
Giang-sơn gặp khách hữu tình,
Đèo Ngang ơi hỡi là mình với ta.
Con cháu chúa, nước non nhà,
Không đi không lại nên ra lạ lùng.
Dừng xe lên đỉnh ta trông,
Mặt ngoài bể nước, bên trong núi rừng.
Nhớ từ Hoàng Nguyễn long hưng,
Cơ-đồ gây dựng cũng rằng từ đây.
Giang-sơn từ bấy đến nơi,
Nào trăng mặt bể nào mây trên ngàn.
Ải xa bến cũ còn truyền,
Oai-linh cảnh thắng bàng hoàng khách du…


Có lẽ đèo Ngang còn gặp Ly Tao nhiều bận khác nữa. Nhưng tôi không được biết. Bạn nào biết hãy nhắc lại cho. Phùng ngộ nhiều lần, nhưng dường như thắm-thiết nhất có lẽ là lần có bà Huyện Thanh-quan chứng giám.

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom-khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác-đác bên sông rợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.


Tại sao với bà Huyện Thanh-quan lần phụng-ngộ lại nồng-nàn nhiều thế. Chắc là tại tôi chủ quan. Đối với bà Huyện trọn đời tôi tự nguyện sẽ giữ mãi tấm lòng chủ-quan thiên-ái.

Xin bạn đừng cười. Tôi cầu mong cho mỗi bạn đều mang nặng nơi lòng mình hình-ảnh một “bà Huyện Thanh-quan”.

Mà thật tội và đáng thương lắm chứ! Ai lại cái tình với ông Huyện đằm-thắm là thế, mà nửa đường tuy không đứt gánh, nhưng cũng bị đứt ngang. Cung-trung giáo-tập mà làm gì? Danh-vị chức-tước mà làm gì. Còn đâu những ngày cùng ông Huyện sánh vai xử án:

Phó cho con Nguyễn Thị Đào,
Nước trong leo-lẻo cắm sào đợi ai.
Chữ rằng xuân bất tái lai,
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già…


Ngang-nhiên vượt phong-tục lề thói, quên mình là vợ của một “dân chi phụ mẫu” – đúng ra có lẽ nhớ lắm nên mới có cái niềm cảm-thông đẹp đẽ ấy – bà ngang-nhiên cho phép người coi nặng duyên tình hơn nghĩa cũ, để rồi trong trường-hợp khó xử “quan trên nhắm xuống người ta trông vào”, bà lại cũng đem văn-chương mà xở mối khó-khăn cho ông Huyện.

Cứ như trong đạo đàn-bà,
Chờ ba năm nữa mới là người ngoan.


Thật là lý-thú. Pháp-luật, chính-trị, phong-tục, đều đã hân-hoan đầu hàng văn-chương một cách êm giầm mát mái.

Và đáng lắm mà! Chữ tài liền với chữ tai một vần. Nếu không có những hành-động tài hoa diễm lệ kia - bất tuân phép nước, luật vua, mà làm cho nhà vua nặng tình văn-chương càng thêm đẹp ý – Nếu không có những hành-động ấy thì làm gì vị đế-vương quý-chuộng văn-chương lại nghe được tiếng, và muốn một hai được hội diện cùng giai-nhân, để gây oán-sầu cho kẻ ở. Không biết là bà Huyện sau này có nối một đường tơ thắm nào với nhà vua chăng? Họ xướng họa với nhau nhiều bận lắm mà! Làm sao rồi tránh khỏi…

Chắc các bạn trách tôi sao quá dài dòng lệch-lạc. Ý tôi là muốn nhận chân một bản-ngã một tâm-hồn, để hiểu kỹ một chuyến đi sau này sẽ ảnh-hưởng đến tâm-tình con-người son-sắt ấy như sao. Có thể thì rồi ra mới cảm-thông được nhiều cái hồn thơ bà Huyện.

Tôi còn rất tiếc không rõ người đàn-bà ấy ra đi, ngoài tấm lòng nhớ-thương chồng, có còn đau-đớn vì tình mẫu-tử bị chia-lìa hay không? Con-cái của bà có nhiều hay không? Tôi tưởng đó là một vấn-đề mà văn-học-sử nên khơi sáng.

Ta cũng không nên oán nhà vua. Có lẽ nên nhớ ơn vị vua đã biết quý-chuộng người văn-tài lỗi-lạc. Có thế thì văn-chương mới thêm được nhiều vần châu ngọc. Cái chuyến đi từ Thanh-quan vào Thuận-hóa, người đàn-bà xưa nay vẫn ở chốn cửa các phòng khuê, đã đặt gót chân lữ-thứ trên dặm đường, và đèo Ngang nghìn năm sẽ còn in dấu-vết. Và Ly Tao được dịp đẹp ý mỉm mấy nụ cười.

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.


Ta không lấy làm lạ nếu nụ cười của Ly Tao lần này hân-hoan, hăm-hở thế nào. Từ nhỏ đến lớn sống trong êm-đềm những trướng rủ màn che, bảo làm sao bây giờ không đê-mê trước trời mây lai-láng. Ta hãy nhìn cảnh với đôi mắt ấy của người khuê-nữ thì họa chăng mới nhận ra vì sao lời thơ nồng-nàn trong cảm-hoài là thế mà giọng-điệu vẫn như phơi phới hân-hoan, vừa rộn-ràng vừa xao-xuyến, vừa ngơm-ngớp, vừa lâng lâng. Cái xao-xuyến của tâm-hồn son sắt uốn-nắn trong khuôn-phép tam tòng phải chăng vẫn không làm chết niềm khát-vọng tiềm-tàng cho tâm-hồn cởi mở, một tâm-hồn nghệ-sỹ bao lần trong phong-độ, trong văn-chương bà đã để trào-lộng giạt-dào.

Lá chen hoa và cây chen đá quả không giống cảnh phong gấm rũ là phải không bà Huyện? Trách nào người chẳng mê-mãi nhìn cảnh ngất ngây… Lom-khom dưới núi tiều vài chú. Các chú-tiều lom-khom, không giống dáng-dấp những con a-hoàn tha-thướt giữa khung-cảnh gát tía lầu son, và lác-đác bên sông rợ mấy nhà không giống huyện đường mấy tý phải không. Nó nhắc gợi muôn vàn niềm-nỗi mông-lung trong tâm-tư người lữ thứ.

Nhưng cảnh hữu tình là thế, mà chỉ riêng ai một mình đối cảnh lúc xế tà, hỏi sao không đau lòng được nhỉ!

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.


Chúng ta đừng vội trách bà Huyện lẩn-thẩn. Nước nào mà nhớ? Nước mất về tay ai mà nhớ? Nhớ nước của vua Lê mất về tay Phúc Ánh? Hiểu như thế là cố chấp quá! Và quả là lẩn-thẩn. Cái lẩn-thẩn đáng ghét của bọn tu-mi thường không chịu quên cái bản-chất huênh-hoang của mình để hiểu một mối chân tình đằm-thắm ái-ân của phụ-nữ. Họ sợ mang tiếng là tầm-thường. Chao!

Nếu trong loại thơ khẩu-khí bọn đàn-ông thường cố gói-ghém cho kỳ được trong những vật tầm-thường những hoài-bão lớn-lao, một đôi khi thật tình, rất nhiều khi giả tạo, để lòe người, thì ở đây, tâm-hồn bạn nữ-lưu lại khác hẳn. Bà Huyện yêu-dấu của chúng ta lại khéo léo mượn tình nước, tình nhà mênh-mông để che-dấu một tình riêng âu yếm. Thật là diễm lệ mà đoan trang, mà chân-thành biết mấy. Và hồn thơ lai-láng dến bao nhiêu. Có biết thành-thực ngậm-ngùi riêng cho mình, thì rồi ra mới biết chân-thành xót thương cho cả trần-hoàn, tạo vật. Ta biết nói làm sao .

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.


Nước và nhà đây không phải là nước nhà của dân-tộc. Mà “nước, nhà” của riêng bà Huyện Thanh-quan đương xa ông Huyện.. “Nhà” thì dễ hiểu rồi. Nhà đây là “nhà của thiếp”, lời của người đàn-bà vẫn thường âu-yếm gọi đấng phu-quân của mình. Và nước đây cũng không phải là mảnh giang-sơn gấm-vóc. Nước đây là nước non của tình-ái, là nước non của “nặng một lời thề” là non nước của “nước đi đi mãi không về cùng non” là nước non của “một mảnh tình riêng” của “ta với ta”. Nước non của kẻ chốn Chương-đài người lữ thứ, cách-biệt không biết “lấy ai mà kể nỗi hàn-ôn…”.

Huyện đã kín-đáo biết bao! Ta hãy lấy tâm-hồn của ông Huyện để hiểu hai câu thơ lai-láng ấy của tình-tứ riêng tây. Cái quý của hồn thơ là chỗ đó: tình hận riêng tây kín-đáo diễn phô và chân-thành phơi-trải cho riêng kẻ Chương-đài hiểu thấu tình lữ-thứ mà thôi. Bạn là kẻ lạ, bạn hãy cứ ngây-ngô mà hiểu theo lối rộng-rãi của bạn. Bà Huyện không cầu mong gì hơn nữa. Ai muốn hiểu sao thì hiểu. Riêng quan Huyện nhà ta thì không lầm. Quan Huyện đã nhận ra tấm lòng son-sắt lai-láng như nước mây, kín-đáo dành riêng cho mình mà không ai biết.

Cái hình-ảnh mới thật là huyền-dịu làm sao. Con quốc quốc đau lòng. Cái gia gia mỏi miệng. Chúng mang cái đau lòng của người mỏi miệng thở-than, mà lời viết rất “trùng quan biệt cách”. Quốc quốc, gia gia, những điệp-tự vang vang tha-thiết, với âm-hưởng sắt-son của tấm lòng người dõi mong tình bàn lứa. Nó vang lên song-đôi mà đơn-chiếc, chan-chứa hoài-vọng của tâm-tình, mà thất vọng của tâm tư, mà bẽ-bàng của tâm-tưởng… Ai đã từng một buổi chiều hoang-vắng, một mình vò võ băng truông giữa khung-cảnh núi rừng heo-hút và “núi biếc chập chùng vây ải lạnh”“dặm về lá đổ phấn tàn xiêu…” giữa mịt-mùng hoàng-hôn sương khói, giữa tịch-liêu của trời đất mang mang, sẽ hiểu cái âm-thanh lạ-lùng của con quốc quốc đau lòng nhớ nước, con gia gia mỏi miệng nhớ nhà. Bạn sẽ không hỏi con gia gia là con gì. Con gì mà chả được. Chính vì không rõ là con gì mà nó mang hình-ảnh trọn-vẹn của mọi con chim lạc bạn, nó ở ngay trong tâm-tình người, nó nhớ nước thương nhà chìm trong dĩ-vãng, nước nhà giữa sao dời vật đổi pha-phôi. Người vẫn nằm giữa giang-sơn, giữa nhà, giữa nước, mà tấm-tức nghe rộn những tang-thương quanh mình…

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia…
Dừng chân đứng lại, trời non nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta….


Một mảnh tình riêng ta với ta gửi riêng về quan Huyện ngậm-ngùi than-thở: “Xa xôi ai có thấu tình”, và một lòng thiết-tha cầu nguyện:

“Bao giờ cho đến bao giờ,
Đôi lòng một nhịp, đôi bờ gần nhau
Để sông kia hết u-sầu,
Để nghìn non nọ vẽ màu xinh tươi…”


(H.T.)


_________________________

(1) Thuộc về rặng núi Hoành-sơn, giữa Hà-Tĩnh và Quảng-Bình.

Xe hơi đã tới đèo Ngang.
Ấy qua Hà-Tĩnh, đường sang Quảng-Bình

Tản Đà




(Trong cuốn Một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan của giáo sư Bùi Giáng, nhà sách Tân Việt xuất bản năm 1957).

(trả lời với: hodinhvu)
Bài thứ: 8
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 6/13/2008 4:30:01 PM   
thanhthuduc

 

Thành viên đang: offline

Nghi ngờ một chữ trong bài thơ Qua Đèo Ngang

--- Phúc Trach ---

Bài thơ Qua Đèo ngang của Bà huyện Thanh Quan là một bài thơ Đường luật rất hay, được lưu truyền rất rộng rãi. Bốn câu đầu của bài thơ như sau:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Từ trước đến nay, các tài liệu chữ quốc ngữ truyền lại đều thống nhất ghi chữ thứ năm của câu thứ tư là "chợ". Nhưng suy nghĩ lại thì ta thấy chữ chợ rất đáng ngờ, cần bàn bạc xem.

Ở vùng nông thôn, miền núi của ta từ xưa, một cái chợ dù quy mô to hay nhỏ bao giờ cũng tập trung trên một khoảnh đất, chứ không phân tán lác đác mỗi nơi một nhà. Chợ được dựng thành từng dãy lều lụp xụp thấp bé, lợp bằng lá cọ, hoặc cỏ gianh gác trên hàng cọc chỉ cao trên dưới một mét, không thể gọi là nhà được. Nếu chợ có quy mô lớn thì lại có mấy cái đình tuy cao nhưng trống trải bốn bề, và lại cũng không phân tán lác đác; mà ở chân Đèo Ngang, vùng núi ngăn cách tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình nổi tiếng vì đất nghèo thì không thể có chợ lớn.

Xét về luật thơ Đường thì hai câu ba và bốn phải đối xứng với nhau về lời, về ý. Ta thấy chữ lác đác ở câu 4 là đối xứng với chữ lom khom ở câu 3; rồi chữ bên sông (4) đối với chữ dưới núi (3) chữ mấy nhà (4) đối với chữ vài chú (3). Vậy ở vị trí chữ chợ phải là một chữ đối xứng với chữ tiều. Tiều có nghĩa là nghề kiếm củi, chú tiều là người hái củi. Vậy chữ gì đối xứng với chữ tiều? Ta biết ở nông thôn miền núi có mấy nghề phổ biến được quy vào bốn chữ ngư, tiểu, canh, mục tức là đánh cá, hái củi, cày ruộng, chăn nuôi. Đây nói đến mấy nhà lác đác bên sông thì gần gũi nhất là nghề đánh cá tức là "ngư". Nhưng dùng chữ ngư, thuộc thanh bằng, lại không thay được chữ chợ, thuộc thanh trắc, không đúng luật thơ. Xét ra chỉ còn chữ vạn, nghĩa là nghề sinh hoạt dựa vào sông nước. Vùng Nghệ Tĩnh có các làng xã ven sông có tên Vạn Gia, Vạn Sồng, Vạn Rú, Vạn Phần v.v...

Ngoài ra cũng có người có ý kiến đọc chữ rợ thay chữ chợ. Chữ rợ có thanh trắc, âm gần giống chợ. Nhưng chữ rợ là nói người man rợ, một tiếng có ý khinh bỉ, ngày xưa tuy có dùng nhưng lại không đúng với dân ta người Việt ở vùng Đèo Ngang cạnh đường cái quan. Họ không mang tính chất gì là man rợ cả.

Tóm lại tôi nghĩ rằng nguyên văn của câu thơ vốn dùng chữ vạn, sau truyền tụng lại, và có người không thạo ngôn ngữ dân gian đã sửa thành chữ chợ một cách vô lý. Vậy câu thơ phải là:

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông vạn mấy nhà.

Tôi đề xuất ý kiến thô thiển trên đây, và mong đợi những ý bàn bạc thêm cho rõ.

(trả lời với: hodinhvu)
Bài thứ: 9
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 6/15/2008 7:36:16 AM   
thanhthuduc

 

Thành viên đang: offline

Chùa Trấn Quốc (Đền Trấn Quốc) của Bà Hồ Xuân Hương

Ngoài cửa hành cung cỏ dãi dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau!
Một tòa sen lạt hơi hương ngự,
Năm thức mây phong điểm áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi vẫn rộn.
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa, cảnh cũ đâu đâu tá?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu


Trên vài trang nhà trên mạng, Hư thấy bài này đề tác giả là Bà Huyện Thanh Quan với lời chú thích “Câu 8 “Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu” trong quyển "Nữ sĩ Việt Nam" của Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền ghi là "Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu."

Thiển nghĩ câu: Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu đượm nặng “mùi” Hồ Xuân Hương.Thì có lẽ tác giả bài thơ là nữ sĩ họ Hồ, không biết Anh Vũ, expert chuyên trị thơ HXH (!) và quý vị nghĩ sao?


xin được góp thêm một bài viết của PHẠM TRỌNG CHÁNH về bài thơ nầy.Bài nầy được trích trong bài viết "HỒ XUÂN HƯƠNG và PHẬT GIÁO" của PTC.


….Qua tám bài Vịnh cảnh Ðồ Sơn, ta thấy Hồ Xuân Hương rất thông suốt Phật pháp: biết núi Linh Thứu, biết vườn Kỳ Viên, biết tích Vua A-Dục, biết việc Vương Minh đào giếng giúp dân, ban phước, biết tích Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn. Xuân Hương thiền định ở Chùa Cốc, thuộc kinh điển: sắc tức thị không không tức thị sắc, Cao tăng là hiện thân Phật Tổ... Xuân Hương còn thông Kinh Dịch quẻ ly quẻ hoán. Thơ Vịnh cảnh chùa Hồ Xuân Hương tràn đầy thiền vị, của một Phật tử đầy đạo tâm... điều đó trái ngược với sự dốt nát, xấc xược trong những bài thơ truyền khẩu gán cho Xuân Hương.
Có thể có người nói về tuổi gần năm mươi Xuân Hương đạo hạnh, nhưng thời trẻ có thể tinh nghịch, bài thơ Vịnh Chùa Trấn Quốc, Hồ Xuân Hương làm lúc trẻ đã bác bỏ sự kiện này. Trong Hương Ðình Cổ Nguyệt thi tập, mới tìm thấy trong tủ sách gia đình ông Trần Văn Hào, tại Quần Phương, huyện Hải Hậu, Nam Hà, hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Hà Nội có bài thơ Ðề Chùa Trấn Quốc bằng chữ Hán, tôi dịch như sau:

Ðề chùa Trấn quốc

Ai người đến đó khách đài trang,
Nhè nhẹ thanh thanh cơn gió nam,
Trăng nước sóng lồng, sen nỏn cánh,
Khói hương tàn báu, hạc mây ngàn.
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu,
Gợi tỉnh niềm mê, cỏ thắm xuân,
Ðến cảnh quay đầu, người muốn hỏi,
Ðông nam tay vẫy, nhạn tung đàn.

Nguyên tác phiên âm Hán-Việt như sau:

Ðề trấn quốc tự

Trang lâm thùy thị cảnh trung nhân,
Tế tế thanh phong phiến phiến huân,
Thủy nguyệt ba lung liên quải choát,
Hương yên bảo thoại lộ liên vân.
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại,
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân,
Ðáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn,
Ðông nam phất tụ nhạn thành quần.

Bài thơ cho ta thấy phong cách trang nhã của Hồ Xuân Hương, đã thấm nhuần Phật pháp khi đến chùa, nhìn đóa hoa hàm tiếu như rửa niềm trần tục, nhìn thấy cỏ mùa xuân như gợi tỉnh niềm mê. Trong bài này Xuân Hương đến chùa với một khách đài trang tôi nghĩ rằng đó là Nguyễn Du, về sau này trong bài chơi Tây Hồ nhớ bạn, Xuân Hương có nhắc đến: Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ, lời thơ đề vịnh chùa Trấn Quốc còn vang vọng như ngấn nước, và Nguyễn Du phục tài Xuân Hương sánh nàng với Tiểu Thanh. Thuở ấy Xuân Hương ngây thơ thấy cảnh muốn quay đầu hỏi, nhưng Nguyễn Du không đáp đưa tay vẫy đàn nhạn tung trời. Nếu giả thuyết này đúng bài thơ này có lẽ được viết trong khoảng thời gian 1790-1793.

Trong thơ truyền khẩu có chép bài thơ nôm Chùa Trấn Bắc gán cho Hồ Xuân Hương.

Chùa Trấn Bắc

Qua chơi Trấn Quốc cảnh buồn rầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau.
Một tòa sen lạt hơi hương ngự,
Năm thức mây phong điểm áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi vẫn rộn,
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa cảnh cũ đâu đâu tá?
Ngoài cửa hành cung, cỏ dãi dầu.

Chú thích: Nhiều bản chép câu cuối:
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.

Chùa Trấn Quốc, năm 1844 Vua Thiệu Trị mới đổi ra Trấn Bắc. Do đó trong thời Xuân Hương chùa mang tên Trấn Quốc. Theo tôi bài thơ này của bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Thị Hinh, cùng quê làng Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận với Xuân Hương, bà sinh sau Xuân Hương, chồng là Lưu Nguyên Ôn người làng Nguyệt An huyện Thanh Trì, Hà Ðông, từng làm Tri huyện Thanh Quan, chồng bà mất sớm, năm ông 43 tuổi, bà vẫn ở vậy nuôi con. Ðời Vua Minh Mạng bà được mời làm Cung Trung giáo tập, dạy các cung phi và công chúa.
….
PHẠM TRỌNG CHÁNH.

(trả lời với: thanhthuduc)
Bài thứ: 10
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 6/19/2008 3:49:04 PM   
thanhthuduc

 

Thành viên đang: offline

Trong bài thơ QUA ĐÈO NGANG của BÀ HUYỆN THANH QUAN có hai câu thơ:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Xin được chú thích hai từ CON QUỐC QUỐC và CÁI GIA GIA bằng 2 bài viết trích từ Điễn Hay-Tích Lạ của Nguyễn Tữ Quang.

Con "Quốc quốc"

Con "Quốc quốc" vốn là chim Cuốc. Tiếng "quốc quốc" do cách tá âm "cuốc cuốc" mà ra. Trong bài "Qua đèo Ngang" của bà huyện Thanh Quan, có câu:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Chim Cuốc còn có tên là Đỗ Quyên, Tử Quy hay Đỗ Vũ. Giống chim này, đầu mỏ hơi cong, miệng to đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng có một đường đen thẳng ngang. Nó thường lủi trong bụi rậm dưới ao sâu hoặc hồ rộng. Cuối xuân sang hè thì bắt đầu kêu. Giọng thê thảm khiến khách lữ hành động lòng nhớ nhà, nhớ quê hương.

Chim này không tự làm tổ lấy, đẻ trứng vào ổ chim Oanh. Chim Oanh ấp, nuôi cho đến lớn.

Sự tích chim Cuốc có nhiều thuyết.

Có điển cho rằng vua nước Thục là Đỗ Vũ thông dâm với vợ một bề tôi là Biết Linh, Biết Linh dấy loạn. Vua Thục thất bại, mất ngôi, chạy trốn vào rừng. Đoạn này sách "Thành đô ký" lại nói: Vua Thục thông dâm với vợ Biết Linh. Biết Linh biết chuyện, bày kế cho vợ nói khích Đỗ Vũ nhường ngôi cho Biết Linh rồi cùng vợ Biết Linh bỏ nước đi, để sống cho trọn tình chung. Đỗ Vũ nghe theo, giao nước cho Biết Linh nhưng vợ Biết Linh bây giờ bỏ Đỗ Vũ, trở lại sống cùng chồng.

Buồn khổ, nhớ nước, sau thác, Thục đế hóa thành chim Đỗ Quyên, ngày đêm kêu mãi không thôi.

Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du đoạn tả về khúc đàn của Kiều gảy cho Kim Trọng nghe lúc tái hợp, có câu:

Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ Quyên.

Lại cũng có điển chép: Thục đế An Dương Vương của nước ta (207 trước D.L.?), vì con gái là Mỵ Châu bị lừa, trao nỏ thần cho chồng là Trọng Thủy nên phải thua trận và nhảy xuống biển tự tử. Vì nhớ nước nên hóa thành chim Cuốc, ngày đêm kêu lên những tiếng não ruột.

Thuyết sau này e không đúng. Vì tiếng "Đỗ Quyên", "Đỗ Vũ" nguồn gốc vốn ở Trung Hoa.

Thật không có tiếng gì kêu bi thảm, não ruột cho bằng tiếng chim Cuốc. Những buổi trưa hè nắng chang chang hay những đêm hè tịch mịch, tiếng chim Cuốc trong những bụi rậm hay trong bụi niễng dưới đầm vọng lên làm lòng người cảm thấy bi ai một cách lạ lùng. Nó gợi lên được sự nhớ nhung một thời oanh liệt xa xôi nào; có khi nó thúc giục và làm bừng dậy cái tinh thần ái quốc nồng nàn đương tiềm tàng trong lòng người dân thời nước mất nhà tan.

Thi ca cổ điển Việt Nam dùng rất nhiều điển về chim Cuốc.

Trần Danh An, một di thần nhà Lê (1428-1788), nghe tiếng Cuốc kêu cũng cảm xúc, nhớ lại một triều đại hưng thịnh, một công nghiệp dựng nước của Thái Tổ, tài đức Thái Tông... Hôm nay, Chiêu Thống hèn nhát, họ Trịnh chuyên quyền, lòng ái quốc thiết tha sống động trong tâm hồn thi sĩ; nhưng thi sĩ cảm thấy mình bất lực trước thời cuộc nên đành gói ghém tâm sự di thần của mình trong mấy vần thơ:

Giá cô tại giang Nam
Đỗ Quyên tại giang Bắc
Giá cô minh gia gia
Đỗ Quyên do hữu quốc gia thanh,
Cô thần đối thử tình vô cực.

Nghĩa:

Chim giá cô ở bờ sông Nam,
Chim Đỗ Quyên ở bờ sông Bắc,
Giá cô kêu gia gia,
Đỗ Quyên kêu quốc quốc
Chim nhỏ còn kêu tiếng nước nhà
Cô thần đối cảnh tình man mác.

Bà huyện Thanh Quan khi qua đèo Ngang đã mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm trạng thầm kín của mình đối với công nghiệp của triều Lê đã mất:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Nhưng tiếng Cuốc ở đây lại càng lâm ly, não nùng hơn nữa.

Đứng trước thành Cổ Loa, xưa kia nơi đây là cung miếu của vua Thục, nhà thơ Chu Mạnh Trinh bất giác sinh lòng hoài cổ. Cung miếu đó, xưa kia tráng lệ huy hoàng bao nhiêu thì ngày nay điêu tàn quạnh quẽ bấy nhiêu. Trong cảnh vắng vẻ lạnh lùng này, dưới ánh trăng mờ nhạt, tiếng cuốc khắc khoải năm canh vọng lên buồn bã.

... Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt,
Trăng mờ khắc khoải Cuốc kêu thâu

(Bản dịch của Tiền Đàm)

Nguyên văn:

... Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu,
Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.

Tiếng Cuốc của quan Án Chu Mạnh Trinh tuy có não nuột thật nhưng chưa sâu xa thấm thía và bi đát bằng tiếng Cuốc kêu của cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến. Tiếng Cuốc của Cụ Nguyễn là tất cả tiếng nói của lòng một người dân tha thiết yêu nước bị mất nước. Tiếng Cuốc đó còn nói lên một mối đau buồn uất hận của tác giả vì nỗi bất lực trước cảnh đen tối của thời cuộc. Và, đó cũng là tiếng nói của lương tâm thôi thúc tác giả xông pha vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc:

Khắc khoải sâu đưa giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục đế thác bao giờ.
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đừng gọi?
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?
Ban đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

Mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm sự của một người dân vong quốc vẫn là một thông lệ trong văn chương Việt Nam.

"Thục đế", "Đỗ Quyên", "Quốc quốc" đều do điển tích trên.

Cái "gia gia"

Cuối đời nhà Thương (1783-1154 trước D.L.) vua Trụ hoang dâm vô đạo, tàn hại lê dân, người người oán giận.
Văn Vương là Cơ Xương, vốn là một chư hầu của nhà Thương, nhân từ đức hạnh, được các chư hầu và dân chúng kính phục. Văn Vương lại có một người tôi tài giỏi là Khương Tử Nha phò tá làm cho chính trị trong nước ngày càng hưng vượng. Văn Vương chết, truyền ngôi cho con là Cơ Phát, lấy hiệu Võ Vương.
Sau Võ Vương nghe lời quần thần, hội chư hầu đem binh phạt Trụ mong cứu dân chúng thoát cảnh lầm than. Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc nghe thấy, ra nắm dây cương ngựa của Võ Vương, nói rằng:
- Cha chết chưa chôn mà đã chăm việc chinh chiến, thế có gọi là hiếu được không? Bầy tôi giết vua để cướp nước, thì có gọi là nhân được không?
Võ Vương bảo:
- Vua Trụ hoang dâm vô đạo, sát hại lê dân làm giận lòng người, trái ý trời. Nếu ta thủ phận, ngồi nhìn sự hà khắc của vua Trụ thì muôn dân còn trông cậy vào đâu! Hơn nữa, giang san có riêng gì của vua Trụ, ngày xưa vua Thành Thang chẳng chinh phạt vua Kiệt nhà Hạ để dựng nên nhà Thương đó sao?
Bá Di, Thúc Tề chẳng nghe, cho Võ Vương là bội chúa. Những cận thần của Võ Vương tức giận, muốn giết cả hai. Tử Nha can:
- Không nên. Hai ông là người nghĩa.
Đoạn, bảo quân lính đẩy hai ông ra.
Sau Võ Vương thắng trận, Trụ Vương thiêu mình, lập thành nhà Chu, các chư hầu đều thần phục. Bá Di, Thúc Tề lấy làm hổ thẹn, coi thóc gạo cũng là của nhà Chu mà không ăn nữa. Hai ông lên ẩn ở núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, và làm bài hát "Thái Vi" (hái rau vi) rằng:

Lên núi Tây Sơn chừ, ta hái rau vi.
Kẻ bạo thay bạo chỪ, biết phải trái gì.
Thần Nông, Ngu, Hạ đã qua chừ ta biết đâu mà quy y.
Đành chịu vậy chừ, vận mạng ta suy.
Nguyên văn:

Đăng bỉ Tây Sơn hề thái kỳ vi hĩ,
Dĩ bạo dịch bạo hề bất tri kỳ phi hĩ.
Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một bề ngã an thích quy hĩ.
Vu ta tồ hề mạng chi suy hĩ.

Nhưng một hôm có người bảo hai ông:
- Đất bây giờ là đất của nhà Chu, thiên hạ là thiên hạ của nhà Chu, hai ông đã chê, không ăn cơm gạo nhà Chu mà hái rau vi của giang san nhà Chu thì có khác gì.
Hai ông cho là có lý nên từ ấy nhịn ăn mà chết.
Tương truyền, hai ông vì uất ức, oan hồn chưa tan nên biến thành một loại chim, thường gào thét một giọng bi thảm:
- "Bất thực Túc Chu gia... Bất thực Túc Chu gia" (*)
Người ta bảo đó là chim Đa Đa do âm "gia gia" mà ra.
Trong bài "Qua đèo ngang tức cảnh" của bà Huyện Thanh Quan, có câu:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Nguyễn Công Trứ có làm bài thơ "Vịnh Di, Tề":

Danh chẳng màng, lợi cũng chẳng mê.
Ấy gang hay sắt hỡi Di, Tề?
Gặp xe vua Võ tay dừng lại,
Thấy thóc nhà Chu mặt ngoảnh đi.
Cô Trúc hồn về sương mịt mịt,
Thú dương danh tạc đá tri tri.
Cầu nhân chẳng đặng nhân mà chớ,
Chẳng trách ai chi, chẳng oán chi.

(trả lời với: thanhthuduc)
Bài thứ: 11
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 6/19/2008 11:45:58 PM   
Tieu Tot

 

Thành viên đang: offline

Thấy bạn thanhthuduc trích dẫn một vài nguồn mô tả chim Cuốc hơi... loạn xà ngầu, tôi nhớ lại một bài tán gẫu đã đăng cách đây ít lâu trên một diễn đàn bạn (Gachnoionline.org).

Xin đăng lại đây để các bạn đọc chơi cho vui




Một chút tản mạn về con chim Quyên

Chim Quyên ăn trái nhãn lồng,
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.
...
Chim Quyên xuống đất ăn trùn,
Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than !
...
Chim Quyên xuống suối tha mồi,
Thấy em lao khổ, anh ngồi sao yên ?
...
Chim Quyên từ bỏ thôn Ðoài,
Quyên buồn thảm thiết, gọi ai chiều chiều ?


Chắc ai cũng đã một lần nghe qua mấy câu ca dao quen thuộc này. Nhưng mấy ai đã biết rõ con chim Quyên của những câu ca dao trên là chim gì hoặc thậm chí đã nhìn thấy chúng ?
Câu hỏi này thật ra không dễ trả lời chút nào. Những ai có ý thích tìm hiểu hình dáng các loài chim Việt Nam mà xưa nay mình chỉ biết tên qua sách vở chắc phải nhức đầu, chóng mặt khi đụng tới chú "chim Quyên" này.

Thuở nhỏ khi đi học lần đầu tiên tôi được nghe diễn giải về chim Quyên qua truyện Kiều, trong đoạn Thúy Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe sau lúc tái hợp :

Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên


Và phần chú thích ghi là Đỗ Quyên là con chim Cuốc (hay chim Quốc) lấy từ sự tích của vua nưóc Thục bên Trung Hoa là Đỗ Vũ khi chết hóa thân thành chim Quốc.
Và chim Quốc thì làm ta nhớ tới thơ của bà Huyện Thanh Quan

Nhớ chúa đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia


Sách vở ghi chim Cuốc là 1 loài gà nước, hay lũi trong bụi, có tiếng kêu buồn thảm nghe như “quốc quốc” .

Nhưng ai nói chim Đỗ Quyên của Tàu là con chim Quyên của ta?
Xem "Chinh Phụ Ngâm" của Đặng Trần Côn ( câu 133 ...)

Liễu điều do vị chuyển hoàng ly
Vấn quân hà nhật quy
Quân ước đỗ quyên đề
Đỗ quyên dĩ trục hoàng ly lão
Thanh liễu lâu tiền ngữ ý nhi


Đoàn Thị Điểm diễn Nôm (câu 125 ...):

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo


À ra vậy, người xưa đã dịch Đỗ Quyên là con chim quyên thì mình chỉ cần tìm tên khoa học của con Đỗ Quyên tức chim Quốc hay Cuốc này rồi sẽ truy ra được hình ảnh mặt mũi của con chim Quyên .

Nhưng trước hết thử xem trên mạng coi những người thích khảo cứu về chim hay bàn luận về văn học có cung cấp thêm chi tiết nào khác không.

Những chuyện lộn xộn, “tẩu hỏa nhập ma” bắt đầu ở đây.

Tìm tên bằng tiếng Anh và tiếng Hoa thì thấy :

The word Đỗ quyên, borrowed from Chinese 杜鹃, is a curious one. Originally it referred to the cuckoos, but later, was confused with the crakes or Cuốc. The word Đỗ vũ, borrowed from 杜宇 and also originally meaning 'cuckoo', has suffered the same fate.

Đỗ Quyên nguyên gốc là chim Cúc-cu ? Vậy tại sao theo trang web của Đài Loan này con chim với cái tên khoa học Amaurornis phoenicurus (chim Cuốc) có tiếng kêu “quốc quốc” (“kuo, kuo”) này là 1 loài gà nước ?
http://www.gio.gov.tw/info/ecology/English...Animals02_e.htm

Tra tiếp:

Nguồn 1 :

Chim Cuốc còn có tên là Đỗ Quyên, Tử Quy hay Đỗ Vũ. Giống chim này, đầu mỏ hơi cong, miệng to đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng có một đường đen thẳng ngang. Nó thường lũi trong bụi rậm dưới ao sâu hoặc hồ rộng. Cuối xuân sang hè thì bắt đầu kêu. Giọng thê thảm khiến khách lữ hành động lòng nhớ nhà, nhớ quê hương.
Chim này không tự làm ổ lấy, đẻ trứng vào ổ chim Oanh. Chim Oanh ấp, nuôi cho đến lớn.


Cái này thì thật loạn xà ngầu ! Phần trên tác giả mô tả một loài gà nước, phần dưới rõ ràng muốn nói tới một loài chim thủ đoạn có một không hai như Lã Bất Vi mà cách đây không lâu một chương trình của đài TV National Geographic đã “vinh danh” là loài chim “nham hiểm” số 1: chim Cúc-cu

Nguồn 2 :

Đỗ Quyên là tên của con chim Quốc (Cuốc), còn gọi là Thần phong Quyên , là Đỗ Vũ ,Tử Qui ,Tu Hú , Gia, Ó... Việt Nam gọi chim này là con Cuốc hoặc là Giá Cô , chim Đa đa.
Chim Quyên thuộc họ Cuculidae , còn chim Giá Cô thuộc Phasianidae.


Lộn xộn hơn một bậc! Lần này con chim Đỗ Quyên vừa là chim Cuốc, vừa là Đa đa, giá Cô, Tu hú, Ó ... đủ thứ !

Và còn nhiều nữa, càng tra càng rối loạn cả lên !

Tới đây thì tạm chấp nhận từ “chim Quyên” trong tiếng Việt có thể để chỉ ít nhất 2 loài chim khác nhau: chim Cuốc và chim Cúc-cu (Đỗ Quyên). Tại sao không ? Nuớc Việt Nam trải dài hàng nghìn cây số, thổ ngữ 3 miền có khác nhau, không hiếm trường hợp cùng một chữ mà miền Bắc và miền Nam dùng chỉ những sự vật khác nhau. Quả mận ở xứ Bắc là trái táo ở trong Nam, quả táo của miền Bắc trong Nam kêu là trái Bôm (pomme) và trái mận của miền Nam lại là quả doi (hay roi) ngoài Bắc ( :bye: ! Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời ...

Trở lại mấy câu ca dao bên trên, vậy thì con chim quyên nào ăn trùng, con nào xuống suối tha mồi và con nào ăn trái nhãn lồng ( , “nhãn lồng” cũng lại là một trường hợp khác biệt ngôn ngữ Bắc Nam)?

Tra cứu về chi tiết động vật học của các loài chim kể trên thì:

- Cúc-cu ăn côn trùng, nhện và sâu, giun (Cuckoos feed mainly on insects, spiders and worms )
- Chim Cuốc ăn côn trùng nước, nhện, cỏ, lá, hạt (They feed primarily on aquatic insects, spiders, grass, leaves, and seeds)

Vậy thì “Chim Quyên xuống đất ăn trùn, Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than !” chắc là con cúc-cu vì chim cuốc ở bờ bụi cần gì phải “xuống đất” ? Còn chim Quyên trong “Chim Quyên xuống suối tha mồi, Thấy em lao khổ, anh ngồi sao yên ? ” có vẻ giống con Cuốc, một loài gà nước, hơn.

Chim Quyên ăn trái nhãn lồng,
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi


Chưa ai tìm ra câu trả lời thoả đáng cho chú chim quyên ăn nhãn lồng này. Chim Cúc-cu và chim Cuốc đều không ăn trái cây.
Một tài liệu (http://www.bird-stamps.org/species/66069.htm) cho thấy loài Cúc-cu phân bố chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung, trong khi ca dao nọ được kể là ca dao của miền Nam. Biết đâu chim quyên của miền Nam lại là một loài chim hoàn toàn khác? Điều này chắc phải chờ các nhà động vật học Việt Nam truy cứu.

Biết đến bao giờ Việt Nam mới có một bộ Encyclopedia đầy đủ và tin cậy được ???

Tiểu Tốt @ Gachnoionline.org



Chim Quyên Bỏ Thôn Đoài (Phạm Duy)_Vũ Anh & Kim Tước




Chim Quốc (Cuốc - Amaurornis Phoenicurus)







Cuckoo (Cuculus canorus)





< Được sửa bởi: Tieu Tot lúc 6/20/2008 2:27:43 AM >

(trả lời với: thanhthuduc)
Bài thứ: 12
RE: Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN - 6/20/2008 1:59:59 AM   
thanhthuduc

 

Thành viên đang: offline

Cám ơn bác Tieu Tot đã chỉ giáo
Thật không ngờ cái con chim quốc quốc nầy có nhiều chuyện ly kỳ đến như vậy

(trả lời với: Tieu Tot)
Bài thứ: 13
Trang:   [1]
Diễn Đàn Chính >> [Âm nhạc, Văn học-Nghệ thuật] >> Thơ >> Thơ xưa >> Thơ BÀ HUYỆN THANH QUAN Trang: [1]
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 Ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết




Login| khanhly.net| Diễn Đàn Chính| Bài hôm nay| Bài mới| Góc riêng| Thư riêng| Các thành viên| Tìm kiếm| Log Out


Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.4
Copyright © 2003 - 2006 KHANHLY.NET

0.588