RE: Thơ Nhất Tuấn.
|
Tham gia dưới tên: Guest
|
|
Cùng đọc bài với bạn: không
|
|
Tên login | |
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/5/2009 2:59:21 AM
|
|
|
ntuan1953
Thành viên đang: offline
|
TRẦN KIỀU VINH Bố cháu đã sống một đời oanh liệt Khắp vùng trời…in dấu cánh dù hoa Dù theo Bố… Trên biển xanh , núi biếc Xuyên mây hồng…rộn rã khúc quân ca Và Mẹ cháu … Nữ thiên thần Mũ Đỏ Những người đầu theo binh chủng oai hùng Sóng vai bố Cùng lướt ..theo hướng gió Như ….mãn- thiên –hoa- vũ…giữa không trung Tháng Tư Đen !! người đi …không ngửng mặt Lính bỏ Dân ! Tướng chạy trước hàng quân !! Trần Văn Vinh, truyền thống Dù bất khuất Trận cuối cùng bắn giặc chết đầy sân Giá Tự Do…mua bằng đời biệt xứ Con lưu đầy, Bố gục chết …trong tù Binh Chủng mình Thêm bác Vỹ, bác Phú…. Theo Nguyễn Khoa Nam … vào Cõi Thiên Thu!! Người ở lại…nổi trôi theo mệnh nước Đại tá mù…hành khất sống qua ngày Vẫn Charlie, Hạ Lào … trong tiềm thức Phiến băng hồn …đuổi mãi… đóa dù bay Giây tang đen, quyện máu hồng mũ thắm Cánh thiên ưng, ghim ngực áo hoa rừng Nhẩy Dù ơi, -hỏi ai còn ai mất ? Môi nào cười …mà lệ ấy… rưng rưng Giây tang đen, máu hồng mũ thắm Cánh thiên ưng… lìa .. áo… hoa rừng Nhẩy Dù ơi ! Nhẩy Dù Cố Gắng ! Nhẩy Dù ơi … Một đời. chiến thắng…!!! Để tới bây giờ… Nhìn những hiệu kỳ tiểu đoàn …theo quân , quốc kỳ… Bay vào…hư không !! Trần Kiều Vinh, hôm nay ngày cưới cháu Chú làm thơ … toàn những đoạn thơ buồn Chú nhớ bố Khóc Sư Đoàn yêu dấu Đã tan hàng trên mảnh đất quê hương nhất tuấn (Truyện Chúng Mình) Bài thơ thay quà cưới nhân ngày con gái của Mũ đỏ Trần Văn Vinh và Mũ đỏ Võ thị Vui lập gia đình Trên: Võ Thi Vui, Bích Lộc Dưới: Xuân Lan, Bùi Thị Thủy. năm 1956 Võ Thị Vui và Bích Lộc * Bài viết dưới đây của bà Võ Thị Vui vừa được đăng ở trang 9, nhưng cũng xin trở lại đăng kèm vào post này vì có liên quan. ( Bài viết dưới đây của Chiến Hữu Võ Thị Vui được ghi chép thời chị Vui còn mạnh khỏe, thời mà đôi mắt chị còn tinh anh, nay thì chị đã ra người thiên cổ; mời bạn đọc theo dõi bài viết với tấm lòng của chị với nghiệp lính và nghề văn đã một thời dấn thân cho quê hương đất nước và dân tộc). Sau hơn hai mươi mấy năm tại xứ người lưu lạc, người quân nhân của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa xưa. Những người lính một thời mang quân phục, cầm súng giữ quê hương, ngày nay đã ra thân lữ thứ. Thỉnh thoảng có gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, nhưng khi chia tay nụ cười sao thấy ngậm ngùi. Từ kẻ ra đi năm 1975 cho đến người mới sang sau hàng chục năm bị tù đày, tâm trạng dễ giống nhau và vẫn thấy lạc lõng, thấy bơ vơ. Có chăng khi mặc lại bộ quân phục xưa trong các dịp lễ hoặc hội họp của Quân Ðội. Ta mới thấy nụ cười thực sự nở trên môi các người lính cũ đã từng tung hoành ngang dọc trên mọi chiến trường của bốn Vùng Chiến Thuật. Với nhiệm vụ người dân trong thời chiến, giữ vững an bình trên mọi nẻo đường đất nước. Trong một buổi họp mặt của binh chủng bạn, tôi đã gặp lại một cấp chỉ huy xưa. Ông là một danh tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sang đây, thỉnh thoảng gặp lại, ông luôn luôn niềm nở thân mật, hỏi han như lúc xưa. Lúc ông còn là Tư Lệnh Sư Ðoàn TQLC của QLVNCH. Một Sư Ðoàn thiện chiến mà lũ Việt Cộng nghe đến đã co cẳng chạy lẹ. Ông gặp tôi cười và nói: - Bà đã viết nhiều về đời lính của bạn bè, đồng ngũ thuộc các quân binh chủng, bà cũng đã viết về các Nữ Quân Nhân. Vậy tại sao bà không viết về các Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. Tôi biết Nữ Quân Nhân thuộc QLVNCH không ít, nhưng với binh chủng Nhảy Dù chắc chỉ đếm trên đầu ngón tay, tại sao không viết? - Trình Trung Tướng, các chị có Bằng Dù trong Sư Ðoàn Dù, thật ra cũng không nhiều. Ða số chuyện xảy ra trong đời người Nữ Quân Nhân Nhảy Dù toàn là chuyện cá nhân. Cho nên không có gì để viết. - Thì cứ xem như chuyện kỷ niệm của các cô gái… một thời in gót trên “không gian vương dấu giày” (thơ HHC). - Thưa, tôi sẽ cố gắng… Vừa chào vị chỉ huy xưa, tôi cũng gặp thêm một số chiến hữu khác, ai cũng khuyến khích tôi ghi lại những kỷ niệm xưa thời trong quân ngũ. Bạn bè còn nói thêm: “Bây giờ không viết, mai mốt chống gậy sức đâu mà viết”. Viết gì đây? Tôi trả lời, thôi viết về lúc xưa các ông lén bà xã đi du dương với các em gái hậu phương được không. Bạn bè la hoảng: - Nè! Bộ muốn đốt nhà… bạn hữu sao? - Ai biểu lúc đó các ông cứ ca “Anh tiền tuyến, em hậu phương” chi? - Nhứt bà rồi đó. Thôi thì ghi lại chuyện tình của các Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. Giữ kín quá, lâu lâu bật mí cho anh em, để bắt chước và để mừng… cho bà. Thế là trong lúc cao hứng, lỡ hứa với người Chủ Nhiệm KBC. Cho nên đêm nay, trong căn nhà nhỏ quạnh hiu nơi góc núi, tôi để hồn trở về dĩ vãng… Năm 1955. Lúc đó tôi đã đầu quân vào Quân Ðội. Trong một dịp khao quân, tôi đã gặp Ðại Tá Ðỗ Cao Trí, trong đêm tiệc khao quân chiến thắng Bình Xuyên, ông đã gợi ý cho chúng tôi gia nhập Binh Chủng Nhảy Dù và chính ông cổ võ chúng tôi làm đơn xin được học Nhảy Dù. Lúc ấy tuổi trẻ hăng say, 30 cô gái đã tình nguyện học Nhảy Dù, cũng là khóa I Nhảy Dù của Quân Ðội do chính các quân nhân Việt-Nam thực thụ huấn luyện. Sau đợt tuyển chọn, chỉ có 9 cô thực sự được theo học Nhảy Dù, khóa II cũng chỉ có 6 cô được theo học. Nhưng trong lúc huấn luyện nhảy thi lấy bằng, một nữ phụ tá xuống dù bị gãy xương mông nên không có bằng. Thế Là QLVNCH từ năm 1955 đến năm 1966 chỉ có 14 cô thực sự có bằng. Nhưng đến năm 1960 thì hai trong 14 cô đã được theo học Nhảy Dù điều khiển, có bằng Huấn Luyện Viên Dù. Sau năm 1967 đến năm 1975, có khoảng 10 cô nữa có bằng Nhảy Dù. Lúc trước năm 1965, muốn có Bằng Dù bất luận nam nữ đều phải nhảy năm lần ban ngày và hai lần ban đêm. Sau năm 1967 thì chỉ cần bốn lần nhảy là được cấp Bằng Dù. Bởi vì nhu cầu chiến trường nên thời gian nhảy huấn luyện rút ngắn lại. Ða số quân nhân Dù mới đều thở dài nhẹ… nhỏm, và mỗi năm người quân nhân Dù phải có bốn Saut nhảy bồi dưỡng để có thể ăn lương Bằng Dù. Ðó là kể những quân nhân Dù. Còn các huấn Luyện Viên dĩ nhiên gấp 10 lần hơn, vì huấn luyện khóa nào cũng phải nhảy theo. Và trong đời lính Nhảy Dù của phái nữ có nhiều vui buồn lẫn lộn, dĩ nhiên là chuyện… đàn bà. Tôi ghi lại đây một số chị em có với tôi nhiều kinh nghiệm, nhiều kỷ niệm của người con gái mang danh là Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. 1. Dương Thị Kim Thanh: Chị là một cán sự y-tế ngoài đời, được phục vụ ngành Quân Y. Người miền sông Hương núi Ngự, nhưng giọng nói đã lai… Sài Gòn 50%. Chị tốt nghiệp khóa I Nhảy Dù với tôi. Cũng là một trong 9 cô Nữ Quân Nhân Nhảy Dù đầu tiên của QLVNCH. Lúc đó chị 25 tuổi, là người lớn tuổi nhất trong 9 cô. Chúng tôi xem chị như người chị cả. Hiền lành nhỏ nhẹ. Phục vụ rất tận tâm trong ngành Quân Y, tuy quân số thuộc Sư Ðoàn Nhảy Dù (lúc đó là Lữ Ðoàn Nhảy Dù). Nhưng làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Lúc ấy, 9 cô khóa I đều là độc thân (bắt buộc) nên chị là hoa khôi của Tổng Y Viện Cộng-Hòa nhờ vào chiếc Mũ Ðỏ và Bằng Dù chị mang trước ngực. (Thời đó Nữ Phụ Tá mỗi ngành đồng phục, đội mũ calos trên đầu. Chỉ có các cô gái có Bằng Dù, được Bộ TTM cho phép đội Mũ Ðỏ dù phục vụ ở đâu). Chị đã cùng chúng tôi đi nhảy biểu diễn khắp các nơi và trong một Saut đặc biệt, tình yêu đã nở trên không. Ðại Úy Trương Quang Ân, người đứng thủ khoa của Võ Bị Ðà Lạt (khóa 7, năm 1952) đã cùng chị thực hiện lời ước mơ. Ðám cưới kết thúc mối tình không gian. Chị đã có ba con. Sau này chị là phu nhân Tướng Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Ông Bà đã tử nạn trong một tai nạn phi cơ trực thăng lúc đi thăm viếng tiền đồn. Ðể lại vành khăn tang trên đầu ba đứa bé, cùng một lúc mất cha lẫn mẹ. Ðêm nay ngồi đây viết đến dòng chữ này tôi đã không ngăn nổi hai dòng lệ chảy xuống thương cho ba cháu. Không biết bây giờ ra sao? 2. Nguyễn Thị Sang: Chị cũng cùng khóa với tôi. Nhưng phục vụ ở Ðại đội Kỹ Thuật (Trung đội gấp dù). Chị người miền Nam cao lớn hiền lành vui tánh. Tuy lúc đó 19 tuổi mà chị như con nít, giận ai thì khóc lớn, phải dỗ và năn nỉ gần chết mới chịu. Khi nghe hứa đền cho cái bánh thì cười ngay. Có một lần đi nhảy biểu diễn ở Ban Mê Thuột, nhân dịp hội chợ. Có Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chủ tọa. Sau khi nhảy xong, chúng tôi trở về, đề nghị Trung Úy hướng dẫn đi xem thác Drakling. Khi về chị xin ngừng xe một chút. Ông Trung Úy trưởng toán không chịu ngừng. Chị kêu lên nếu Trung Úy không ngừng xe thì… tui chết ông phải chịu… Có lẽ sợ trách nhiệm nên Trung Úy cho ngừng xe. Chị nhảy xuống chạy tuốt vào bìa rừng… Năm phút sau, chị hớn hở chạy ra, tươi tỉnh không cần nhìn đến nét mặt cau có của Trung Úy trưởng toán. Lên xe xong, chị nói tỉnh bơ… “Ai cũng vậy, vua chúa cũng làm dzậy mà. Có dzô thì phải… có ra chứ”. Lúc đó mọi người mới biết là chị đi thi hành cái khoái thứ… tư. Sau này, chị xin giải ngũ lý do “Má kêu về lấy… chồng”. Cho dù ông Trung Úy Trung đội trưởng gấp dù là người nổi danh khó tánh, cũng phải hi câu chấp thuận, mới chuyển đơn lên Ðại đội trưởng Kỹ thuật (Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam sau nầy). Nghe đâu vì sanh khó, nên chị đã từ trần. Nữ Thiên Thần thứ hai đã ra đi, để bạn bè đồng đội ngậm ngùi cho thân phận đàn bà. 3. Nguyễn Thị Thọ: Chị cũng phục vụ trong TÐGÐ, người Hà Nội. Vào Nam cha mẹ mất chỉ có hai chị em. Chị rất vui tánh, thực thà, một mình thay cha mẹ nuôi em nên người. Chị có nhiều Saut Dù vì tình nguyện cùng chúng tôi đi nhảy biểu diễn khắp nơi. Lúc nào chị cũng thực thà nói với tôi là chị rất yêu thích miền Nam vì tính tình cởi mở, không khách sáo và trù phú dễ làm ăn, không khó khăn như ngoài Bắc quê chị nghèo nàn. Sau này chị kết duyên với một Huấn Luyện Viên Dù Cao Ðăng Huynh, một trong những huấn luyện viên nhiều Saut Dù nhất. Vì đông con nên chị đã giải ngũ. Thế là khóa I không còn lại mấy người. Hiện gia đình chị bình yên ở Việt-Nam. Các cháu đều lớn cả. 4. Nguyễn Thị Liên: Chúng tôi cùng chung một khóa học Dù, tuy là hai ngành khác nhau. Nhưng chúng tôi kết bạn xem như “Tình Bắc Duyên Nam”. Chị cũng là con gái Hà Nội, xinh xắn hiền lành, có hai răng thỏ rất có duyên. Sau này chị kết hôn với một sĩ quan Dù, nên giải ngũ ở nhà lo làm vợ hiền. Nhưng sau, Trung Tá Nguyễn Văn Thạnh bị Việt Cộng phục kích chết tại Vùng IV Chiến Thuật. Chị thay chồng nuôi đàn con dại. Không biết hiện giờ chị ở đâu? Tiểu bang nào? Còn nữa. Trong 9 cô Nhảy Dù được mệnh danh là Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ còn có Khánh, Hương, Hoa (một chị nữa tôi quên tên) đã có Bằng Dù nhưng giải ngũ rất sớm. Hiện tại không biết lưu lạc phương nào. Các chị có ra đi hay còn ở lại? Và từ khóa II thì có: 5. Ngô Bích Lộc: Người con gái sinh trưởng tại Thủ đô Hà-Nội. Chính gốc tiểu thư Bắc Hà, dáng gầy cao, nhìn bề ngoài giống con trai nhiều hơn gái. Nó rất tinh nghịch, nhưng mỗi lần đứng trước của phi cơ chờ nhảy chỉ cần nghe tiếng của Huấn Luyện Viên nói “Go!” là phóng ra. Nó còn nhìn lại tôi nháy mắt, hẹn sau Saut Dù phóng ra Hóc Môn ăn bì bún, cái món miền Nam nó mê nhất. Tuy là đầm Tây nhưng lại Việt-Nam hơn cả các bạn Việt-Nam. Xếp của chúng tôi lúc bấy giờ là Trung Úy Nguyễn Ngọc Hạnh (Trung Tá Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh) thường hay bắt chúng tôi ra làm “người mẫu” cho ông chụp. Lúc nào nó cũng nói thầm với tôi rằng: “Khiếp thật! Tao mà ế chồng cũng vì làm người mẫu cho Lão này, mày ạ…” Tuy thế, nó vẫn có nhiều người xin bàn tay. Nó lại dân Tây cho nên rất tự nhiên trong sự giao thiệp. Cái điều kỵ nhất của các bà xếp chỉ huy, lúc bấy giờ các bà lúc nào cũng muốn nhân viên của mình e ấp… tiểu thư. Bích Lộc chúa ghét lối giả tạo, tôi bắt chước theo. Cho nên hai chúng tôi được các bà chỉ huy liệt vào hạng “ba gai”. Sau này nó bực mình không chịu ở Quân Ðội, xin giải ngũ, ra làm phóng viên cho hãng Reuter, tiếng Anh như gió, nó sang Mỹ làm việc sớm lắm. Sau 1975, nó mở một nhà hàng trên D.C. Khách hàng của nó từ ông Tổng Thống đến các Bộ Trưởng, nhân viên ngoại giao, Thượng nghị sĩ, Dân Biểu đều đến nhà hàng của nó. Nhà hàng nổi tiếng ngon, khung cảnh đẹp. Lúc tôi sang D.C. tham dự 50 năm kỷ niệm Nhảy Dù của Quân Ðội Mỹ. Nhìn nó tiếp đãi quan khách ở nhà hàng, tôi thấy nó quyết định giải ngũ sớm là đúng. Thỉnh thoảng hai đứa gặp nhau qua phone cho dù đôi bạn lúc xưa, bây giờ có hai thứ tóc, đều làm chức… Bà cả rồi… Mà vẫn mày mày, tao tao như 40 năm về trước, gặp nhau đều khen nhau đẹp… lão. 6. Trần Xuân Lan: Sinh trưởng ở miền Hậu Giang, tánh thực thà. Người nhỏ con nên khi mặc bộ đồ Dù, đứng trong hàng chờ điểm danh lên phi cơ chúng tôi đều cho nó lên hàng đầu, vì sợ Huấn Luyện Viên Dù bỏ sót nó. Xuống dù luôn luôn nó xuống sau, dù là nhảy trước. Nó đủ điểm nặng chứ không dư ký thịt da nào. Chúng tôi hay chế nhạo nó đi nhảy phải đeo thêm đá. Nó giận lên mét cấp trên. Làm chúng tôi bị rầy. Tuy thế mà người chỉ huy khi nghe nó khiếu nại cũng phải nở nụ cười kín đáo. Sau lần dang dở tình yêu với một sĩ quan Mũ Ðỏ nó thề không lấy chồng nữa. Nghe đâu hiện nay nó về quê ở Sa Ðéc làm nghề y tá… vườn rất khá. Không biết có lúc nào nó nhớ lại lúc còn áo hoa Mũ Ðỏ hay không? 7. Bùi Ngọc Thúy: Cũng sinh đẻ tại Bắc Việt. Nhưng quê nó ở Nam Ðịnh (?) được tính thật thà. Bị bạn bè hay chế nó là “Hăng Rô”. Nó không biết, hỏi tôi rằng: “Tại sao chúng nó gọi tao tên… Tây vậy hở?” Tôi cười đáp ngay là miền Nam hay nói lái. Hăng Rô… tức là “Thưa cô rằng. Ngược là… Răng cô… thừa…” Vỡ lẽ ra, nó kêu tên tam đại tụi bạn ra chửi. Ðược thể tụi bạn còn chọc thêm. Tuy xin tình nguyện đi Nhảy Dù nhưng nó sợ lắm. Bao nhiêu lần định bỏ dở, nhờ tôi khuyến khích. Có lần được lệnh đi nhảy ở Bình Ðịnh, tôi dặn nó: “Năm giờ có lệnh tập họp. Mày nên để đồng hồ reo chứ không thì ngủ quên”. Nó hứa chắc. Saut dù biểu diễn đó, nó không có mặt lúc lên phi cơ. Hôm sau nó trình diện người chỉ huy, với khuôn mặt bầm một bên má, cánh tay thì băng bó, có giấy bác sĩ cho nghỉ ba ngày. Tôi hỏi nó tại sao? Nó mắng tôi: “Ðồ ranh con. Ông nghe lời mày nên ông không đi nhảy biểu diễn được”. Tôi ngạc nhiên nhìn nó dò hỏi nguyên nhân. Nó bảo: “Tại mày dặn để đồng hồ reo. Khi nó reo tao đang nằm mơ. Tưởng tiếng chuông phi cơ cho lệnh GO nên tao nhảy ra. Từ trên giường hai tầng nhảy xuống mang theo cả màn mền, bị bầm mặt. May mà không gãy… răng là phúc ba đời rồi. Còn hỏi gì nữa? Ông không chửi mày là may cho mày lắm rồi. Còn làm bộ tử tế hỏi móc ông hả?” Tôi thầm nghĩ: “Ðúng là đồ Bắc Kỳ chanh chua… Làm ơn mắc oán”. Nghĩ thế nhưng tôi không trả lời, hoặc nói ra ý nghĩ đó. Vì sợ nói tạc dzăn nổi giận thì tôi cũng được bác sĩ cho ba ngày… dưỡng thương. Bây giờ, nó và gia đình định cư, an lạc tại xứ… Úc. Lâu lâu, nó gọi phone sang kêu: “Mày, mày chịu khó sang tao chơi. Tao đãi mày… Mít Ðặc”. Già rồi vẫn còn con nít và mái Tây Hiên của nó vẫn còn… chưa rụng. 8. Nguyễn Thị Thân: Chị này lớn tuổi nhất của chúng tôi lúc bấy giờ. Chị cũng sinh trưởng ở Bắc Việt, người quê Phát Diệm. Chị góa chồng lúc còn ở Hà Nội, rất xinh đẹp, mắt bồ câu, da trứng gà. Người cao lớn như đầm. Nhưng chỉ giống đầm về nhan sắc và vóc dáng. Khi chị nói thì sặc thổ âm quê của chị. Ví dụ, chị hay lộn chữ D thành chữ R và ngược lại. Khi nhảy dù xuống bãi, thì lệnh bắt buộc cuốn dù lại cho vào bao và vừa chạy về địa điểm tập họp trình diện Sĩ quan Bãi nhảy. Vừa chạy vừa kêu to là “Nhảy Dù cố gắng”. Bất luận nam hay nữ đều phải theo lệnh này. Cho nên chị cũng không ngoại lệ… cứ vừa chạy… vừa la to “Nhảy.. Rzù… cố gắng. Nhảy… Rzù… cố gắng”. Tôi và Bích Lộc chạy theo sau cũng gào to “Nhảy.. Rzù… cố gắng. Nhảy… Rzù… cố gắng”. Chị quay lại mắng ngay “Nằm kí rì mà to mồm vậy…? Ðồ khỉ gió…” Lũ “khỉ gió” cứ ngoác mồm la “Nhảy… Rzù… cắn gố…” (cố gắng). Chị là người cẩn thận, lúc đi nhảy chị băng độn hai đầu gối bằng băng cứu thương thật dầy. Chị nói rằng khỏi sợ bị trầy đầu gối khi xuống dù, mặc jupe không đẹp. Nhưng chị không nhớ là đầu gối không quan trọng bằng đầu, chân và mông khi xuống dù. Sau này chị tái giá với một sĩ quan Dù, có thêm năm con. Hiện chị ở trên Washington State từ 1975. 9. Mai Thị Minh: Nếu chị Thân là hoa khôi của Dù từ năm 1956 đến 1960, thì Mai Thị Minh là hoa khôi Dù từ năm 1962 đến 1975. Nó đúng là con gái Hà Nội chính cống. Nhà giàu, chính Trung Tướng Thiệu, Ðại Tướng Viên lúc còn trẻ ra Bắc cũng thuê nhà của nó mà ở. Sau di cư vào Nam, gia đình bẩn chật, nên nó vào Nữ Phụ Tá. Ðúng gái Hà Nội, đẹp và tiếng nói dịu dàng mọi người đều công nhận. Phục vụ tại bệnh viện Ðỗ Vinh của SÐND. Có một vài “bà bác sĩ” (có nghĩa là vợ của bác sĩ) thấy nó bèn ôm ghè tương, nếu hôm đó ông chồng trực tại bệnh viện. Thật tội cho nó vì nó không bao giờ trực đêm cả. Vì nó độc thân nên có nhiều anh hùng để mắt. Có lẽ vì tưng tiu, nó vẫn còn hình bóng của người anh hùng TQLC năm nào ngã gục trên chiến trường ở tận địa đầu giới tuyến, để lại vết thương lòng cho Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ tài sắc. Hiện nay nó ngày ngày một gánh bún riêu dạo khắp xóm bán nuôi thân. Có ai ngờ người đàn bà lam lũ kia đã có một thời nổi tiếng Hoa Khôi Mũ Ðỏ giầy Saut, nón đỏ áo hoa đã làm một anh hùng nghiêng ngửa… Còn nhiều nữa. Nào Nguyễn Thị Nguyên Hoành, Lữ Thị Tám. Nguyễn Thị Thịnh, Nguyễn Thị Hợi, Phan Cẩm Phi, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Ðào Thị Phùng, Võ Thị Vui. Những Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ của Quân Lực VNCH lúc xưa. Nay người ra thân lữ thứ, người còn lại quê hương với bao nỗi xót xa. Có lúc nào nhớ lại lúc xưa “không gian vương dấu giày” (HHC). Lúc còn đội chiếc Mũ Ðỏ, tung mình ra không trung mang lại hãnh diện cho con cháu Triệu Trưng. Nếu nhớ lại vô tình dòng lệ tiếc thương lặng lẽ chảy xuống khóc cho mình hay người Nữ Quân Nhân Dù khóc cho quê hương?
< Được sửa bởi: hodinhvu lúc 8/10/2009 4:25:01 AM >
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/6/2009 3:04:25 PM
|
|
|
phan rang
Thành viên đang: offline
|
Kính chào chú Nhất Tuấn, Mấy hôm cháu bận về quê, hôm nay mới có thì giờ lên phố đọc thơ của chú. Cám ơn chú dẫn giải kể chuyện cháu mới hiểu thêm nội tình của những câu chuyện xưa. Không ngờ thời 60 mà các bà các cô nhảy dù giỏi quá. Chị HV gắn hình cho em coi với, em tin là chú MH cũng mong xem hình như em. Hình ảnh mà có thềm lời bình của chú Nhất Tuấn là nhất. Đọc vui và thích lắm. Chú Minh Hao, Cháu không biết chú MH lớn hơn cả cô Khánh Ly, vậy là lớn hơn cả ba cháu .Cháu phải gọi bác MH mới đúng, nhưng trong đầu cháu đã ghi hình ảnh anh MH trẻ trung vui tính nên từ giờ cháu xin gọi chú MH được không chú? Thông cảm cho cháu cứ bị ông già vợ trợn mắt hoài, nên lúc nào cũng phải ở trong tinh thần ‘kính lão đắc thọ’. Bữa nay chú đi đâu cháu theo tới đó. Cháu đợi nghe chú MH hát bài Niềm Tin. Thân ái, PR
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/9/2009 2:42:31 AM
|
|
|
Hu Vo
Thành viên đang: offline
|
Nhà anh Minh Hao trồng được cây Mimosa đẹp quá. Cảm ơn anh Hai. Bây giờ em Ba xin phép chú Nhất Tuấn mượn bài thơ này tặng anh Hai nha. Cứ Tưởng Rằng Đã Quên Cứ tưởng rằng đã quên Tới hết đời di tản Những kỷ niệm thần tiên Của ngày xa xôi lắm Ngày ấy tuổi học trò Sân trường đầy phượng đỏ Yêu nhạc và mê thơ Rất đơn sơ mộng nhỏ... Như nước chảy qua cầu Đời trai bao dâu biển Dẫu không là của nhau Vẫn âm thầm thương mến Người đem giông bão tới Cho tình muộn lẻn về Thơ viết rồi không gửi Trằn trọc mỗi đêm khuya Lại xin quên lần nữa Đã hứa với nhau rằng: Xa để còn được nhớ Dù tình lỡ trăm năm Nhạc yêu cầu nức nở Tình ... lỡ... trăm ... năm Nhất Tuấn ( Truyện Chúng Mình) Cứ Tưởng Rằng Đã Quên – Hoàng Mị phổ nhạc – Quỳnh Lan ca
_____________________________
"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/10/2009 10:13:08 PM
|
|
|
ntuan1953
Thành viên đang: offline
|
GÓP Ý VỚI THÀNH THỦ ĐỨC 1. Đóng Góp Thêm : Dạo chơi Phố Xưa, vì tới sau, tôi vào coi hết góc phố của Hồ Vũ rồi, nay thấy góc phố Thơ & Nhạc của Thành Thủ Đức (TTĐ), nên …cũng tà tà ghé thăm. Và dính ngay vì ở đây có rất nhiều bản nhạc trứ danh tôi đã học thuộc từ khi 5, 6 tuổi và còn được biết … rất nhiều nhiều chi tiết của những người nhạc sĩ danh tiếng, đặc biệt Văn Cao, và đa số, cũng vì họ là những nhạc sĩ mà nhất tuấn yêu mến quý trọng cả hơn ½ thế kỷ qua. Ngay sau những dòng chữ đầu TTĐ đã kêu gọi rất thân ái : “…Nói như vậy không có nghĩa nếu không được phổ nhạc thì thơ không ai biết, nhưng chính nhạc phổ thơ đã đưa bài thơ đến với nhiều người hơn, ngay cả những người không yêu thơ. Mở ra trang nầy, tôi không có tham vọng liệt kê toàn bộ những tác phẩm thuộc dạng trên. Chỉ muốn làm một trang riêng ghi lại những bài thơ đã được phổ nhạc. Mong các bạn yêu thích dòng nhạc nầy đóng góp thêm.” “…Những bài thơ của các thi sĩ lớn khác như Màu Thời Gian của Ðoàn Phú Tứ, Tì Bà của Bích Khê, Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời của Nhất Tuấn cũng được tôi đem vào nhạc trong những ngày xa xưa đó. (Phạm Duy)” Rất đồng ý với đoạn 1 (đã tô đậm và gạch dưới bởi nt) Và cũng vì thấy tên nhất tuấn ở trong đó, vậy xin góp ý với TTĐ về “kinh nghiệm tươi” của một người làm thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc thơ mình. Ví dụ người viết bài này đã có một số thơ được hân hạnh phổ nhạc bởi khá đông nhạc sĩ trước và sau 1975. Xin coi bảng liệt kê ở dưới: Các nhạc phẩm (đã phổ thơ từ TCM) A. Trước 1975 NS Đan Thọ 1. Mimosa thôi nở (1959) NS Anh Linh 2. Niềm Tin (1960) 3. Mimosée (1967) NS Nguyễn Đức Quang 4. Chỉ Tại Anh (1963 ) (Chúa Nhật này Trẫm nhớ Ái Khanh không?) NS Hoàng Lang (gs Phạm Phúc Hiển, dậy nhạc tại trường Pétrus Ký /SGN) 5. Hoa Học Trò (1969) 6. Tiếng Hát Đồi Sim 7. Tha Thiết 8. Xin trả lại em 9. Tại vì em đẹp (có thể còn 6 bài nữa (?) của Hoàng Lang sẽ tìm ghi sau) NS Nguyễn Tường Vân 10. Xin trả lại em NS Phạm Duy 11. Nguyện Cầu (Con quỳ lạy Chúa trên Trời) NS Anh Bằng 12. Hoa Học Trò (1973 ?) NS Trần Thiện Thanh 13. Chúa Nhật Này Trẫm nhớ Ái Khanh ? (?) 14. Hoa Học Trò (?) B. Sau Tháng Tư Đen 1975 : NS Hoàng Mị: 1. Cánh Lá Phong 2. Cứ Tưởng Rằng Đã Quên 3. Gọi Tên Nhau Hoài NS Vũ Đức Nghiêm 4. Tóc Rụng 5. Nhà Thờ Đường Cô Giang NS Liên Bình Định: 6. Tình Yêu UW 7. Hoa Đăng 8. Tóc Rối 9. Đêm Cuối Cùng Dalat 10. Tìm Xác Chồng NS Trần Quan Long 11. Độc Ẩm (viết thay Huy Quang) 12. Tiễn Thanh Nam (Tiễn Một Người) NS Cao Hoàng: 13. Bên Nẻo Đường Xưa NS Tuấn Khanh: 14. Chọn Mầu Áo NS Nghiêm Xuân Cường 15. Cánh Lá Phong NS Minh Châu (Paris) 15. Truyện Chúng Mình 16. Hôn nhau lần cuối 17. Xin trả lại em 18. Tìm Xác Chồng NS Hoàng Huy (Phan Văn Minh) 19. Gửi Người Trưng Vương 2. Mỗi nhạc sĩ là một ông Trời. Mỗi người một tính ! Xin nói ngay, tôi không có ý nói những nhạc sĩ (NS) phổ thơ TCM của tôi, người này giỏi hơn người kia về nhạc, về danh tiếng, bằng cấp chuyên môn, hoặc về…vv và vv., . lý do là tôi dốt nhạc! Rất dốt!! Nhưng tôi cám ơn những NS vì họ là bạn đồng cảm, với thơ nhạc và cùng yêu cái đẹp của cuộc đời. Tôi cũng cám ơn những nghệ sĩ trình diễn, vì họ đã giúp những bài thơ TCM của tôi bay xa bay cao đi khắp muôn nơi bằng tiếng hót của những loài chim quý. Nhạc sĩ Đan Thọ, với “Mimosa thôi nở” (1959). Nhạc sĩ Minh Châu với “Truyện Chúng Mình” (2008) tất cả … gần 20 NS rồi, đã có tình Bá Nha Tử Kỳ với tôi rất đậm đà từ nửa thế kỷ qua. Xin tạ ơn Trời cho chúng ta còn giữ mối dây thân ái, sống tới ngày nay khi Quê Hương và Dân Tộc VN trải qua bao dâu bể. Nam nữ nghệ sĩ trình diễn bộ môn ngâm thơ như : Bích Thuận, Bích Sơn, Hồ Điệp, Hoàng Oanh, Bích Ty, Bạch Hạc, Hồng Vân, Quách Đàm, Hoàng Thư cùng các ca sĩ trình diễn trong ngoài nước; ngay cả những bạn trên KhanhLyNet/Pho Xưa, như Tiểu Muội, Hư Vô, Hồ Vũ , Lonton, Thành Thủ Đức là những người chỉ mới quen qua NET từ 01/01/2009 đã khiến nhất tuấn đôi khi… ướt mi. Trước 1975, nghe Elvis Phương và Khánh Ly song ca cũng như nghe Quỳnh Giao và các em nàng trong ban tứ ca đồng ca “Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời”. Rồi sau 1975, nghe Diễm Liên hát “Hoa Học Trò” (Anh Bằng) cùng Nguyên Khang cũng như nghe các ca sĩ khác Thu Phương, Quang Linh, Quốc Dũng, Duy Quang, Ngọc Minh, Mai Ngọc Khánh, Hương Lan, Tuấn Vũ hát những tác phẩm có liên hệ tới TCM bỗng trong giây phút ... buồn vui tràn về, đầy ắp hồn ta với bao kỷ niệm của hơn nửa đời…người. Rành rọt như vậy rồi. Rõ ràng lắm lắm rồi nhé. Xin chớ hiểu lầm ! Thế nhưng… mỗi NS là một Ông Trời. Thơ của mình, ông phổ nhạc, chẳng thèm hỏi một lời hay nửa chữ. Một cuốn video, một tape nhạc gửi tặng cũng không, đừng nói chia tiền bản quyền ! **Bố già Phạm Duy chọn bài lục bát “dở ẹc” của TCM, và bỏ tên bài thơ (Cầu Nguyện, Nguyện Cầu…quên rồi) và cho nguyên câu lục vào “Con quỳ lạy Chúa trên Trời” để làm tên bản nhạc. Năm 1970 tôi trở lại Xứ Hoa Anh đào, học lớp học quân sự cao cấp sau khi rời trường Võ Bị 15 năm trước. Một ngày đẹp trời, ông đại tá già đồng đạo, cùng khóa học, nhưng là cấp chỉ huy ngày xưa bỗng nói: - Phạm Duy phổ nhạc bài thơ cậu dễ thương lắm. Sao không cho anh em một tape nhạc? - Tôi có biết NS Phạm Duy phổ nhạc bài thơ nào của tôi đâu ... thưa đại tá ! - Hừm…bài này …dễ thương lắm. Hỏi “toa” để biết thêm. Nhưng “toa” không muốn nói thì thôi! Ông bỏ đi! Và lát sau sau có nhiều bạn nói : - Đài Phát Thanh Dalat vừa chạy bản nhạc phổ thơ của mày. Mẹ kiếp “Con quỳ lạy Chúa trên Trời” nghe … mùi mẫn cải lương thấy bà! Mày coi các Đài Phát Thanh Quân Đội, Quốc Gia chán rồi, lên đây học với chúng tao còn bắt chúng tao học thêm cách tán đào, rồi bắt cha Phạm Duy..Nhà Bè phổ nhạc để bán lấy tiền đủ thứ … lôi thôi. Vừa thôi chứ! Tôi gọi điện thoại ngay hỏi thi sĩ Hoàng Anh Tuấn, quản đốc Đài. Ông cười vui : - Tao tiếp vận Đài trung ương Saigon. Bài thơ của mày... loại lục bát con nít, ba xu, nếu là chương trình đài Dalat thì tao nhất định không phổ biến. Nhưng mà Phạm Duy phổ nhạc, nghe vài lần cũng êm tai. Mới phát có vài lần mà thính giả đã điện thọai yêu cầu nghe lại. Phải lâu lắm lắm, dù gặp bố già nhiều lần trước 1975, không ai đề cập tới chuyện này. Sau Tháng Tư Đen, mãi khi tôi đến Nam Cali thăm mẹ tôi lâm trọng bệnh và theo yêu cầu của Niên trưởng Vũ Quang Ninh (1), Đài đã sắp xếp cho tôi có với Việt Dũng trong 1 giờ trực tiếp truyền thanh trên Little Radio Saigon, thì tôi nói về “Con quỳ lạy Chúa trên Trời” ..với Việt Dũng, về câu chuyện trên Dalat của 1970. Cũng đề cập tới “không tape nhạc tặng, không một xu bản quyền, không biết gì hết ..v..v..” nhưng tôi vẫn thành thật rất cám ơn Bố Già Phạm Duy vì ông đã phổ thơ TCM của tôi, và tôi hân hạnh lắm lắm, vì Bố Già Phạm Duy là một trong vài NS thần tượng của tôi với bao nhiêu nhạc phẩm tôi thuộc từ ngày còn ở hậu phương , ngay cả tới những bản nhạc khi tôi được nghe ở Cục Chính Huấn/ TCCTCT: Kẻ thù ta đâu có phải là người Giết người đi thì ta ở với ai... Và cũng nhờ ông mà ngày đó “Con quỳ lạy Chúa trên Trời” được rất nhiều người biết tới. Mẹ tôi, các cha cố, nam nữ tu sĩ, họ hàng nội ngoại ở Xứ Đạo Hố Nai, Biên Hòa, Gia Kiệm, nhất là ..”các đấng học sinh nhóc” đều nghe, đều thích vì có lạy Chúa, xin Chúa cho cưới em ở trong đó... qua tiếng nhạc của Phạm Duy ..v.v.. và v.v.. Đang tía lia với Việt Dzũng, thấy Việt Dzũng mỉm cười nháy mắt nhìn sang phòng gương ở ngoài. Hai phút sau vừa nghỉ break, thấy bố con ông Phạm Duy, Duy Cường ngồi ở đó. Bắt tay tôi, bố già cười tươi: - Bố con tớ đang chạy xe trên xa lộ, nghe tiếng Phạm Hậu đấu với Việt Dzũng, ghé Đài thăm cậu. Cậu xuống đây khi nào thế. Đoạn trên tôi vừa viết nhất tuấn ướt mi vì có …Thành Thủ Đức. Tại tôi bệnh già, dễ xúc động và bật khóc rất dễ dàng không sao ngừng được. Cho nên khi đọc hai dòng dưới đây… thấy Bố Già Phạm Duy cũng dành chút hảo cảm với “Con quỳ lạy Chúa trên Trời”, dù chỉ một chữ, và nhờ có TTĐ post lên Thơ & Nhạc tôi mới rõ.... (“Những bài thơ của các thi sî lớn khác như Màu Thời Gian của Ðoàn Phú Tứ, Tì Bà của Bích Khê, Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời của Nhất Tuấn cũng được tôi đem vào nhạc trong những ngày xa xưa đó”. Phạm Duy) Cám ơn Bố Già Phạm Duy. Cám ơn người bạn trẻ Thành Thủ Đức **… Có ông nhạc sĩ khác thì không hỏi, nhưng chỉ nói: - Tôi thích bài thơ XYZ của anh nên vừa phổ nhạc xong, còn tươi nét mực. Lát nữa Quỳnh Giao sẽ hát, mời anh có rảnh ghé phòng thu âm nghe. Ông này, nhạc sĩ Hoàng Lang, tức giáo sư Phạm Phúc Hiển, dậy Nhạc ở Trung Học Petrus Ký, cẩn thận hơn nữa, chia đôi từng đồng mỗi khi có tiền bản quyền. Chẳng bao nhiêu... nhưng có lẽ tính nhà giáo là như vậy. Hoàng Lang là người phổ nhạc các bài thơ của TCM nhiều nhất! Chúng tôi có sự thâm cảm và tương kính. Có dịp sẽ viết dài hơn về bạn già Hoàng Lang. **Có ông dễ thương cùng mình. Bài thơ “Gửi Người Trưng Vương” tôi đăng trên nguyệt san Lý Tưởng Không Quân ở Houston tháng trước, số báo sau thấy bài thơ này đã phổ nhạc ngon lành ký tên Hoàng Huy. Tôi là cộng tác viên thường trực khá lâu với Lý Tưởng dù không phải thuộc quân chủng KQ, gọi Bằng Phong hỏi. Ông Đồ Xứ Nghệ Đặng văn Âu trả lời: - Hoàng Huy là ông đại tá Minh, Chánh Văn Phòng Phủ Thủ Tướng thời xa xưa, Khóa 1 VBNĐ/Thủ Đức gì đó. Ông đang ở bên Paris thì phải. Xin lỗi tôi có đầu giây bên kia quá gấp. Sẽ gọi sau nhé thi sĩ. Lại cũng quãng vài năm sau mới trở lại với đại tá Minh. Tôi gửi thư sang Paris, địa chỉ do tòa báo cho, để hỏi ... ông viết nhạc từ bao giờ mà tại sao không nghe danh. Và luôn tiện tôi xin phép niên trưởng Minh, hỏi vì sao niên trưởng phổ bài thơ GNTV của tôi, và tại sao sửa một dấu trong bài thơ này? Của nhau dẫu một phần đời. Của ai môi mắt cũng cười nhớ không? (lời ghi trong bản nhạc) Của ai… môi mắt… cùng cười … nhớ không ? (thơ nhất tuấn) Tôi có thơ trả lời sau hai tuần. Đại khái : 1- Anh không biết Hoàng Huy là ai, nhạc sĩ nào…cũng phải. Tôi mới học nhạc xxx.. …ngày trong Trại Tù Cải Tạo. (2) 2- Lý do tôi phổ bài GNTV của anh ư? Giản dị lắm ! Tôi vừa qua Pháp đòan tụ thấy Lý Tưởng cho in bài thơ này. Thơ anh ngắn, đọc lên có nhạc, hợp với trình độ âm nhạc học trong tù của tôi, tôi phổ ngay. Và gửi cho Lý Tưởng không ngờ họ đăng bản nhạc này nhanh quá. 3- Cũng không hiểu tại sao chúng ta khác nhau một dấu trong chữ cùng. Xin lỗi nhất tuấn về sự sơ xuất này.. Để có dịp tôi sẽ chữa lại . ** Có ông thì ngay sau đêm cùng Phạm Hậu trực ở Đài PTQĐ, sáng dậy ông hát sơ sơ bài "Mimosa thôi nở" mà đêm qua ông thức trắng để phổ nhạc bài thơ này Không nhớ ông còn hát đại khái cho nghe hay ông kéo cả violon. Đó là nhạc sĩ Đan Thọ. Vài năm trước, tình cờ Văn Quang – Đại Hư Công Tử - cho biết mới hay, ông Đan Thọ, lặng lẽ về Việt Nam tặng quà cho thi sĩ Phan Lạc T. Ông này có bài thơ Tình Quê Hương mà Đan Thọ đã phổ nhạc: Anh về qua xóm nhỏ Em ngồi dưới bóng dừa. Bên nồi khoai mới luộc…. Qua suốt thời gian hai người xa nhau, ông PLT đảo chánh hụt , chạy qua Nam Vang, rồi ra Khu Chiến theo Cộng Sản. Chuyện chia đôi Đất Nước năm 1954 được thống nhất lại năm 1975 bởi Miền Bắc. Ông PLT về Saigon ... cuối cùng cũng nghèo, chẳng chức vụ gì. Quà Đan Thọ đưa thì không bao nhiêu nhưng chắc khá với PLT lúc đó, nhất là tình nghệ sĩ già của người Quốc Gia đẹp quá. Đan Thọ chỉ nói là tiền bản quyền của “Tình Quê Hương” từ hơn nửa thế kỷ qua... vẫn giữ nay có dịp về thăm và trao lại cho bạn. Của một đồng nhưng tình nghĩa và công tìm nhau thì … mười nén . Bài thơ sau “Tình Quê Hương” được phổ nhạc là “Mimosa Thôi Nở”. Sự liên hệ rất thân ái giữa NS Đan Thọ và nhất tuấn thật là tuyệt vời. Cùng hôm Phạm Duy gặp Phạm Hậu ở Little Saigon Radio thì Đan Thọ cũng lái xe tới Đài gặp nhất tuấn. Và nhờ đó, anh làm sống lại bản “Mimosa Thôi Nở” (tưởng tuyệt bản) Anh viết lại theo trí nhớ. Thêm tiếng chuông nhà thờ thánh thót vào... và ngay lập tức anh giao cho một hãng thu băng, rồi cẩn thận nghe Duy Quang hát anh rất ưng ý. Suốt bao năm qua cả hai chúng tôi cùng liên lạc với nhau ít nhất năm một lần, vài hàng chúc Tết gia đình qua thiệp Xuân hay qua email. Cháu ngoại anh chị, tốt nghiệp bác sĩ, theo nghề bố và cũng như Ông Ngoại, cô là một dương cầm thủ xuất sắt, song tấu dương cầm với ông ngoại của cháu nhiều bản nhạc ngoại quốc nổi tiếng..… ** Có ông là nhà giáo dậy ở Miền Biển. Ông lấy gần như nguyên bài thơ “Xin Trả lại em” cho vào bản nhạc tặng người yêu. Mấy chục năm sau, ông gửi tập nhạc có bài này, một độc giả TCM, gửi bài thơ “Xin Trả Lại Em” của nt tới ông giáo. Bản này do Hoàng Lang phổ nhạc, có cả giọng ca của Hoàng Oanh . Ông té ngửa người ra… cuống cuồng liên lạc. Bấy giờ mới biết nhưng cùng cười vì là bạn quân ngũ và có sự tương kính, nhất là nghe ông giãi bầy. Thơ TCM nhập vô máu lúc nào. Khi làm nhạc tặng cô học trò đệ ngũ mà ông dậy ngày đó … thấy tâm sự hơi hơi giống nhau, nên viết vào nhạc rồi quên luôn. Nhạc sĩ gốc nhà giáo này vừa sáng tác nhạc vừa phổ nhạc các bài thơ tới nay, tuổi gần 80… cũng cả hơn 100 bài chưa kể ông còn đặt lời cho các bản nhạc đủ loại … cũng vào con số vài chục. Ôi người sao mà tài hoa quá nhiều ! Kỳ lạ… có vài bản nhạc của tôi : - Hoa Học Trò, - Trẫm Nhớ Ái Khanh Không, - Xin trả lại em “Cánh Lá Phong” có khi 2, 3 nhạc sĩ vô tình cùng phổ nhạc 1 bài thơ . Có người tôi biết, có người sau cả nhiều năm mới hay . Có người mới phổ “Cánh Lá Phong”, hát cho tôi nghe qua điện thoại thì mất sau đó vài ngày. Đó là TS Dược Khoa Nghiêm Xuân Cường (Võ Trường Toản) Mong sao các bạn trẻ yêu thơ nhạc trên Phố Xưa /Thơ Nhạc có dịp post tất các bản nhạc nói trên lên Net với ít lời nhận xét về mỗi NS (như thơ Hàn Mặc Tử đã posted trên trang Thơ &Nhạc) thì chắc Thành Thủ Đức và nhiều người sẽ thích thú lắm và nt xin cám ơn trước. **Nhật Trường thì giống Anh Bằng. Cả hai cùng chung đơn vị với nhất tuấn. Anh Bằng cùng Anh Linh thuộc ĐĐVN/TU (1960). Nhật Trường thì làm việc ở Đài PTQĐ khi nhất tuấn là Quản Đốc. (1968) Buồn là có thời gian đã cùng đơn vị với nhau, khi phổ thơ mà không nói một lời, không cho một cuốn băng, một bản nhạc. Không chia tiền... thì không quan trọng, vì nhỏ lắm, chẳng đáng gì. Nhật Trường qua Mỹ có gửi cho tape bài “Chúa Nhật Này Trẫm Nhớ Ái Khanh Không”, không có “Hoa Học trò”… và không một chữ thăm hỏi !! Sau khi chồng mất, Mỹ Lan dễ thương hơn, gửi lần 2 “Chúa Nhật Này Trẫm Nhớ Ái Khanh Không”. Nhưng nghe kỹ buồn lắm. Vì Nhật Trường – không hiểu vì lý do gì - đã sửa lời trong bài thơ thành ra các thính giả là cựu nữ sinh Trưng Vương thấy như có điều trục trặc. “Ông giám thị, và Bà giáo đẹp”… chẳng hạn. Ấy buồn thì có buồn, nhưng nhạc Trần Thiện Thanh thì khỏi chê, và nhất là nhạc quân đội: tuyệt vời. Nhật Trường làm việc trong Đài với chương trình Dạ Lan một thời gian, tính rất dễ thương và giúp cả hai bài thơ này của ntuan bay xa lắc . Xin cám ơn Nhật Trường. **Cách đây vài năm, khi Hãng Asia mời nhất tuấn tới Nam Cali để giúp giới thiệu ít lời về DVD Lê Minh Bằng. Nam Lộc mời và ái nữ của Anh Bằng lo thuê khách sạn cho chúng tôi. Cô Thy Vân cho hay sẽ cho xe tới đón gặp thân phụ của cô, nhạc sĩ Anh Bằng, đã tới Asia và chờ gặp chúng tôi luôn rồi cùng đi ăn trưa. Tôi biết NS Anh Bằng nhiều tuổi hơn, thôi cứ phòng xa, thắt cái cà vạt vào. Tới nơi, Anh Bằng cũng cà vạt trên cổ. Từ 1960, nay mới gặp lại. Anh Bằng cùng thân phụ NS Trúc Hồ dẫn chúng tôi đi coi trụ sở Asia. Ông vừa nhìn tôi, mỉm cười hát nhẹ nhàng: Lại một Noel nữa Mấy Mùa Giáng Sinh rồi Anh ở đồn biên giới Thương về …một khung trời Chắc Đa lat vui lắm… Rồi quay sang tôi, ông hỏi: - Anh có tin gì của Anh Linh không? - Có, vẫn thỉnh thoảng liên lạc. Hình như Anh Linh coi ca đoàn cho một Họ Đạo ở gần San Jose. Chỉ biết vậy qua điện thoại chứ tôi cũng chưa gặp lại Anh Linh. Rồi tôi cười tiếp: - Cũng nghe nói xếp sòng AVT cũng lên Thiếu Tá vào 30/3/1975 nhưng mấy ngày sau thì đứt phim chẳng hiểu đã kịp đeo lon mới chưa. Trước khi cùng Thy Vân dẫn đi ăn trưa, Anh Bằng nói với tôi giới thiệu ít lời cho DVD Lê Minh Bằng. Tôi nói là chỉ biết Anh Bằng và Lê Dinh (bạn đồng nghiệp ở đài phát thanh Saigon) còn Minh Kỳ chỉ nghe tiếng sơ sơ. Và tôi cũng móc túi ra bài thơ: “Như Truyện Thần Kỳ” (3), bài thơ tôi làm tiếp theo bài “Sống Nhục Thác Vinh”. Hai bài thơ này tôi rất ưng ý dự trù khi ấn hành Đời Lính III sẽ in chung…. cùng một số bài thơ quân đội mà tôi đã sáng tác sau 1975. Tôi thiết tha nói với Anh Bằng: - Anh và các anh Phạm Duy, Phạm Đình Chương là Vua Phổ Nhạc các bài thơ của thi nhân chúng tôi. Một thời gian, chúng ta đã làm việc chung với nhau ở Đại Đội Văn Nghê Trung Ương , tôi và Văn Quang biết tài anh lắm. Anh Bằng ở Quân Khu II với bao vở kịch nổi tiếng. Giải Tổng Thống phải không ? Khi anh về với Đ ĐVN/TƯ, thì “Huynh Đệ Chi Binh”, “Tiếc Thầm”, “Tôi Là Lính” ba chiêu đầu ra mắt của anh , ngay trước khi hát cho toàn dân Toàn Quân nghe, chúng tôi cùng xuýt xoa ngả mũ. Vậy không cần nói nhiều. Qua đây chúng ta mất hết tất cả, chỉ còn chút tình xưa. Tôi cũng biết, nhạc lính vào giai đoạn này ít người muốn nghe, nhưng nếu Anh Bằng phổ nhạc thơ TCM của nhất tuấn, chắc cũng không tới nỗi nào! Anh đọc xong bài thơ rồi mỉm cười : - Ừ bài này khó bán đấy, nhưng từ từ….để tôi cố gắng.. Cháu Thy Vân ngồi bên nghe bố nói cũng mỉm cười. Tôi biết nếu Anh Bằng phổ nhạc, ít nhất anh có cháu Thy Vân và một số trung tâm băng nhạc thì bản nhạc anh phổ thơ nhất tuấn dẫu có khô khan bán cũng không tới nỗi tệ. Thâm tâm tôi muốn xin Anh Bằng để lại cho đời một tài liệu chiến sử cho QLVNCH, cho trường Võ Bị Đà Lạt chúng tôi, và cho Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Vương Mộng Long, Sỹ quan khóa 20, cùng khóa với Trương Dưỡng và Quách Vĩnh Trường, những người nổi tiếng của trường Võ Bị Đà Lạt, trường Mẹ của TT Thiệu (khóa 1) tới khi tan hàng (Khóa 30) Chợ nhớ ra “Hoa Học trò” tôi hỏi anh: - Mà “Hoa Học trò” của tôi ngày đó anh phổ năm nào mà tôi không biết. Anh Bằng ngẩn người : - Anh không biết tôi phổ bài “Hoa Học trò” của anh à? - Tôi chỉ nhớ anh Hoàng Lang phổ khi tôi về coi ĐPTQĐ ngày đó. Còn qua đây mới hay anh và Nhật Trường cùng phổ nhạc bài “Hoa Học trò”. Nhờ có tiếng nhạc tuyệt vời của anh mà “Hoa Học trò” được phổ biến hết sức rộng rãi ở VN và ở khắp nơi trên thế giới. Tôi nghĩ công của anh, của Asia và cháu Thy Vân với “Hoa Học trò” không nhỏ! Tôi chỉ hơi buồn là ngày ở VN không biết anh phổ nhạc thơ của tôi ! So sánh với lần tôi nói chuyện trên Thúy Nga Paris về Nhạc Lam Phương, sự tiếp đón tôi ở Asia ân cần và thân ái hơn rất nhiều, dù giáo sư Tô Văn Lai và vợ chồng cháu Tô Ngọc Thủy cũng có mắt xanh dành cho vợ chồng tôi chỗ ngồi tốt ! Có lẽ nhờ cháu Thy Vân biết chú nhất tuấn là đồng nghiệp của bố cháu, cháu cũng cho tôi biết ngay sau khi tôi thu hình mấy lời tôi nói về Lê Minh Bằng xong là Asia sẽ trả tiền. Tôi mỉm cười nhìn cháu: - Không phải trả gì cả ! Mình là người nhà mà. Chú có giúp gì nhiều đâu !! Thy Vân nhấn mạnh : - Chú cứ để chúng cháu làm theo thường lệ như với mọi người. Tôi gạt đi: - Chú già rồi, về hưu có tiền hưu của Tiểu Bang, thêm tiền SSA.... sống đủ. Thấy Thy Vân có vẻ vẫn chờ đợi, tôi vội nói: - Nếu cháu muốn, cháu cứ gửi tặng chút tiền thù lao này cho một giáo dường, họ đạo, Dòng Tu nào.... là Ok hết. Cho tới giờ phút viết những hàng chữ này, tôi tin 100% trước sau cháu Thy Vân đã làm. Đâu đó tôi có viết một bài ngắn, nói về lớp trẻ ở bên Mỹ. Mai Khanh, Thy Vân, Tô Ngọc Thủy, Vũ Thanh Thủy … làm việc giỏi lắm lắm. Có thể hơn xa các bậc phụ huynh như khi chúng tôi làm việc ngày bên nhà. Anh Bằng với tôi không có duyên ! Cuối năm ngoái, Phạm Kim cho hay Anh Bằng sẽ lên Seattle, dự dạ tiệc kỷ niệm “Ngày Anh Bằng” sao đó. Nhớ lần bạn già đón vợ chồng tôi ở Quận Cam, mặc dù bữa đó đang đau và trở ngại di chuyển, chúng tôi cũng ráng tìm cách xuống Seattle để gặp cố nhân . Phút chót không gặp vì Anh Bằng đau sao đó không tới được. Thôi xin cùng nhớ cầu nguyện cho nhau trong kinh nguyện. nhtuấn ------------------- (1) Xin đọc thêm trong Những Kỷ Niệm với Ngành Phát Thanh (2) Sẽ tìm tư liệu post sau. Hy vọng đại cương đã nhớ đúng (3) Xin đọc bài thơ này nơi: trang thơ Nhất Tuấn, KhanhLy. Net/PhoXua, do LonTon posted ngày 17/01/2009
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/13/2009 2:14:16 AM
|
|
|
ntuan1953
Thành viên đang: offline
|
GÓP Ý VỚI THÀNH THỦ ĐỨC (tt) Qua Hải Ngoại, trái với kinh nghiệm của tôi có trước 4/1975: 1- tôi đưa thơ của tôi cho những nhạc sĩ để họ…tùy nghi. Thích bài thơ thì phổ nhạc, cho thơ nhạc giao duyên để người làm thơ, nhạc hiểu biêt và thân nhau hơn 2- Tuy cũng có vài nhạc sĩ thuộc loại có tuổi, nhưng đa số, những nhạc sĩ tôi quen ngay nơi địa phương trong bang Washington, đều kém tuổi tôi 5, 10 tuổi. Họ biết tới Nhất Tuấn (qua những bản nhạc mà họ đã nghe ở bên nhà (Mimosa thôi nở, Niềm Tin, Chúa Nhật này Trẫm Nhớ AK không…vv..) nhiều hơn là tôi biết tới họ. 3- Nhưng chính những nhạc sĩ quen sau lại khiến tôi học hỏi được rất nhiều nơi họ về thơ & nhạc giao duyên . Vậy xin kể ra đây để góp ý với Trang Thơ Nhạc của TTĐ. Tôi sẽ nói tới 3 nhạc sĩ mà tôi quen: Nhạc sĩ Cao Hoàng (NS CH) Anh phổ rất nhanh bài Bên Nẻo Đuờng Xưa và không bỏ 1 chữ nào trong bài thơ này , nếu tôi nhớ không nhầm. Anh đàn và hát cho tôi nghe. bài này và lần nào nghe cũng thấy hạnh phúc vì nhạc quyện vào thơ rất là quấn quít. Nhạc sĩ Liên Bình Định (NS LB Đ) Anh phổ các bài thơ của tôi, có bài nhanh, có bài chậm, có bài hay ( Hoa Đăng, Tóc Rối, Tìm Xác Chồng) có bài không hay lắm: - Tình Yêu UW - Hoa Đăng - Tóc Rối - Đêm cuối cùng Da Lat - Tìm Xác Chồng Và mỗi NS vẫn là một ông Trời… sau này, anh không bằng lòng tôi viết lời giới thiệu đầu bản nhạc để phổ biến bài “Tìm Xác Chồng” vì muốn tránh chuyện hiểu lầm. Nghe anh nói bài này anh làm mất công lắm, nhưng tôn trọng tác giả, tôi không dám phổ biến nhạc phẩm này qua PPS và trên Net. Nhưng chúng tôi vẫn là bạn thân ái… email lai rai với nhau. NS Liên Bình Định là ca trưởng nhiều ca đoàn và tốt nghiệp Cao Học Nhạc tại Hoa Kỳ. Anh phổ nhạc và sáng tác nhiều nhạc phẩm rất giá trị, đặc biệt về Thánh Ca Nhạc sĩ Hoàng Mị : (NS HM) Cũng như NS Liên Bình Định, NS Hoàng Mị được mời làm Giám Khảo thường xuyên các kỳ thi ca sĩ tại các Casinos trong Tiểu Bang. Tôi quen NS Cao Hoàng và NS Liên Bình Định khoảng thập niên 1980s. Còn với NS Hoàng Mị thì quen sau 2004, nhưng thân rất nhanh, và đặc biệt có nhiều kỷ niệm cũng như tôi học hỏi được khá nhiều điều về cách phổ thơ của các nhạc sĩ mà người làm thơ nên biết. Tôi người làm thơ… muốn biết cái gì? Tôi muốn biết nhạc sĩ có thể dùng nốt nhạc lột tả được lời thơ tôi viết, bằng âm nhạc, để từ đó, các ca sĩ có thể hát đúng với tình cảm tôi gửi vào mỗi bài thơ, mỗi câu thơ…, thậm chí, từng chữ trong 1 câu thơ tôi đặc biệt dụng ý diễn tả. - Vậy Nhạc sĩ có thể cực tả như ý thơ này qua nhạc được không ? Chờ tôi nói xong, Hoàng Mị cười nhẹ và thong thả trả lời: - Chính các nhạc sĩ cũng muốn điều này. Đã đành là cùng cảm nhận qua lời thơ để viết ra nét nhạc, nhưng nếu anh Ntuấn muốn nhạc sĩ làm điều gì thì cứ nói rõ ra, nhạc sĩ chúng tôi, trong khả năng sẽ vui vẻ chiều ý chứ. Được lời như cởi tấm lòng ! Tôi lợi dụng và … “abused” ông NS trẻ này tối đa. Khi tôi sửa câu này... lúc tôi thay chữ nọ: Chỉ của nhau thôi Truyện Chúng Mình Như tia nắng sớm rất mong manh Sưởi hồn anh một trời băng giá Thơ, Nhạc và Em… Em của anh . (Cánh Lá Phong) Nghe cũng mùi mẫn thiết tha quá rồi. Thế nhưng cái trò … từ xưa … cứ làm như mình bị tình phụ một chiều… mà anh vẫn tha thứ cho em. (xin đọc các bài phê bình thơ Nhất Tuấn của Đỗ Tấn và Thẩm Thệ Hà … nơi Truyện Chúng Mình tập 6 ) (tuyển tập II, Khai Trí , Saigon, xuất bản 1965 ) Đọc đi đọc lại : Thơ Nhạc và em, em của anh Một vài ngày sau, tôi email cho Hoàng Mị hỏi: - Có thể thay Em bằng Ai không? Có diễn tả Ai một cách mỉa mai …”người tình đó” một tí ti không? Hoàng Mị hồi âm rất nhanh : - Anh cứ để Mị thử miết nốt nhạc cuối một chút coi sao Email gửi đi, chừng ½ giờ sau email Mị gửi tới : Thơ Nhạc và Em Em của…AI ??? Khi thì cùng khi thì còn: Lại xin quên lần nữa Đã hứa với nhau rằng Xa để còn được nhớ Dù tình lỡ trăm năm Xa để cùng được nhớ Dù tình lỡ trăm năm Khoái tuyệt cú mèo khi Hoàng Mị phổ nhạc để cực tả 6 chữ dụng ý của tôi Người đem giông bão tới Cho tình.. muộn …lẻn về (Cứ Tưởng Rằng Đã Quên) Nghe Quỳnh Lan hát mấy chữ này, tôi nghe đi nghe lại hoài Người làm thơ thấy thơ mình phổ biến trên báo, trên đài… được độc giả yêu thích đã vui, rồi nay lại thấy thơ mình phổ nhạc và được các nam nữ ca nhạc sĩ thanh tú diễm lệ, đẹp trai, bay bướm, vừa hát vừa diễn tả bằng mắt, môi, má, ngực, tay, chân, tóc, nhăn mũi nhoẻn môi cười qua tiếng hát cùng chen với tiếng nhạc thì hạnh phúc… thật còn tăng lên gấp bội phần . Với Hoàng Mị, qua 2 bài thơ “Cánh Lá Phong” và “Cứ Tưởng Rằng Đã Quên”, tôi nghe thì thích lắm… nhưng nhiều người vẫn chê. Tôi hiểu là khen chê hoàn toàn tuy nơi mỗi người, có người thích bản nhạc này, thích tiếng hát của một ca sĩ nọ. Ngay cả những người coi phim bộ, có người chỉ thích coi phim nào có các tài tử phải đẹp đóng trong đó thì họ mới thèm mua tape, video, CD để coi. Chuyện phim hay dở tính sau . Làm sao mà chúng ta đòi ai cũng một ý như ai. Nhạc nhập vào thơ ngon như vậy mà trời ơi, dù tôi thích quá là thích … thiên hạ vẫn chê như điên! Nhất là bài “Cứ Tưởng Rằng Đã Quên”. Có 2, 3 ông ca nhạc sĩ, cũng 6, 70 tuổi. Hát hay, giỏi nhạc. Trong đêm văn nghệ bán vé ở Miền Trung Hoa Kỳ, một nhạc sĩ có tiếng, bữa đó ê càng đau cúm sao đó, vào đầu bản nhạc trật gam, hát sai. Khán giả có lẽ ít ai để ý, hoặc không biết việc trục trặc… kỹ thuật, nhưng Ông ngồi ở dưới biết ngay. Cái nhà ông ca sĩ già này là bạn thân với gia đình chúng tôi từ khoảng 1957, khi MSB (my super Boss, tức là …tiện nội ) cùng bà xã ông đang học trường Trưng Vương, niên khóa 54-61. Quen nhau trên ½ thế kỷ … có rất nhiều kỷ niêm vui buồn. Kỷ niệm nhớ hoài là ông chê tuốt luốt những bài thơ TCM của nhất tuấn phổ nhạc sau 04/75, và khen các bài trước 1975 phổ nhạc bởi Anh Bằng, Hoàng Lang…Trước ông, có 1 vị giáo sư và một ông trưởng ban nhạc ở Nam Cali, khá nổi danh. Cũng chê Cánh Lá Phong, “Cứ Tưởng Rằng Đã Quên”, và luôn cả những bài của Liên Bình Định, Hoàng Mị. Vậy là ông bạn Miền Trung Hoa Kỳ không ác ý. Thấy sao ông nói vậy. Mấy ông này cùng một ý : - Nhạc này phổ vào … chỉ làm phí thơ của nhất tuấn . Ông cứ đưa cho mấy tay mơ này phổ nhạc… thơ của ông thì chỉ có ... ma nó nghe. Có ông … coi bản nhạc, ngứa tay… sửa luôn lại các dấu nhạc, rồi đề nghị nên thế này… thế kia cho hợp với luật nhạc và lời thơ. Khổ nỗi… tôi có biết gì về nhạc đâu. Mà tôi quen ông bạn này từ ngày làm việc chung tại Đài Phát Thanh Đông Hà, VICT. Tôi sợ Hoàng Mị …viết nhạc sai thiệt, vội… rất ư nhẹ nhàng, hết sức tế nhị trao tay hay email cho Hoàng Mị coi rồi cho biết thêm “mấy ông cũng là nhạc sĩ lâu đời, họ …góp ý kiến.” : Hoàng Mị coi rồi nói .... tỉnh queo : - Em phổ nhạc thơ anh theo ý em. Khác với cách họ phổ ! Thì đã nói .... mỗi NS là một Ông Trời mà !! Cho tới khi làm PPS vẫn có tiếng chê lời khen. Tôi bèn đi một đường… “thăm dò dư luận.” Xin đính kèm dưới đây. Đa số những người tôi hỏi về thơ nhạc hình ảnh của PPS đều là thân hữu. Có vị là giáo sư, Khoa Trưởng Đại Học trước 1970 ở bên nhà. Có vị là thân hữu lâu năm. Có người là em là bạn, là con của bạn và cùng thích thơ nhất tuấn. Tuổi có vài người ngoài 80. Đa số, trên 60 tới trên 70. Người trẻ nhất cũng sấp sỉ sáu bó … Cũng có nhiều nhạc sĩ, ca trưởng nổi danh các ca đoàn và các ban nhạc. Mời anh Thành Thủ Đức, Trưởng Trang Thơ & Nhạc cùng coi. Nói lại lần nữa, tôi không khen chê so sánh các nhạc sĩ phổ thơ tôi. Tôi cám ơn họ. Tôi cũng không khen chê các vị thân hữu góp ý với điều tôi thành thật muốn tìm hiểu, và tất cả quý vị, dù khen hay chê, tôi cũng xin chân thành cám ơn…. đà dành thì giờ quý báu để giúp tôi tìm hiểu thêm. Xin thông cảm và đừng cười lão già …ba phải. Và kết phần Thơ & Nhạc tôi xin nhờ bạn Hồ Vũ gửi tặng bài thơ “Đổi Thay”, trong TCM 6 (trang 70/71, tuyển tập TCM II) vì tôi có chút kỷ niệm…buồn với địa danh Thủ Đức ngày xa xưa đó. Nay thấy người bạn trẻ coi trang Thơ & Nhạc …ký tên Thành với chữ Thủ Đức ở bên cạnh… nên có đôi chút bâng khuâng.... thôi. Chúc TTĐ có kỷ niệm vui hơn tôi, khi anh chọn tên Thành Thủ Đức. Bây giờ tôi qua Kỷ Niệm với Văn Cao, vì thấy Hư Vô và Lonton posted bài Văn Cao trên Thơ & Nhạc, hy vọng tôi góp vài kỷ niệm, kể lại lần tôi về Hanoi gặp nhà nhạc sĩ đại tài này. Nhất tuấn (10/02/20090)
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/13/2009 2:28:16 AM
|
|
|
ntuan1953
Thành viên đang: offline
|
Sẽ post tiếp Phần Nhận Xét của các thân hữu
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/14/2009 9:19:31 PM
|
|
|
htp76
Thành viên đang: offline
|
CÁM ƠN PHAN RANG NHIỀU. THÂN ÁI CHÚC MỪNG NGÀY TÌNH NHÂN ĐẾN PHAN RANG. CHÚC MỪNG CẢ LÃO THI HỮU MINH HAO, CAC BẠN HỒ VŨ, HƯ VÔ. nhấttuấn
< Được sửa bởi: htp76 lúc 2/14/2009 10:14:10 PM >
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/15/2009 2:16:43 PM
|
|
|
htp76
Thành viên đang: offline
|
NHỮNG KỶ NIỆM VỚI NGÀNH PHÁT THANH Phạm Hậu Vào tuổi ngoài 70, đôi lúc ngồi tính sổ đời, thấy có nhiều chuyện ly kỳ khó giải thích nổi. Thật vậy, từ ngày nhập ngũ (10/1953) tới lúc tan hàng (04/1975), những đơn vị Quân Ðội, những cơ quan Dân Sự mà tôi trực thuộc, ít ra 2, 3 lần toàn dính tới: Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, hay Bộ Thông tin. Không kể thời gian ở Nhẩy Dù, Sư Ðoàn Khinh Chiến 14, Thủy Quân Lục Chiến (*), Lữ Ðoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, Quận Minh Long, tôi đã lần lượt đảm trách những chức vụ dưới đây: 1958: Trưởng Ban Ban Tin Tức-Bình Luận Phần Phát Thanh Quân Ðội/SaiGon 1961: Quản Ðốc Ðài Phát Thanh Quân Ðội Ðông Hà-Quảng Trị và Phần Phát Thanh Quân Ðội Huế 1966: Quản Ðốc Ðài Phát Thanh Nha trang 1967: Giám Ðốc Nha Nghiên Cứu Kế Hoạch Bộ Thông Tin 1968: Quản Ðốc Ðài Phát Thanh Quân Ðội/SaiGon 1971: Giám Ðốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh (Hệ Thống Truyền Thanh VN) 1974: Tổng Giám Ðốc Việt Nam Thông Tấn Xã Với thời gian trở đi trở lại làm trong ngành phát thanh, quân đội cũng như dân sự, tôi có khá nhiều kỷ niệm. Phần Phát Thanh Quân Ðội/Saigon: Từ Trung Ðoàn 42 (Quy nhơn) về Nha CTTL, tôi bắt đầu cũng làm phóng viên, biên tập viên, viết phóng sự, làm thơ trào phúng lai rai cho báo Chiến Sĩ Cộng Hoà và khi anh Vũ Ðức Vinh, một Niên Trưởng Khoá 1 Võ Bị Nam Ðịnh, qua Không Quân cùng Thiếu Tá Nguyễn Xuân Vinh, tôi được chỉ định thay thế anh, lo phần tin tức và bình luận của Phát Thanh Quân Ðội. Thời gian đó, Trưởng Phòng Phát Thanh là Ðại uý Lê Văn Duyên. Nhân viên trong Phòng có các sỹ quan: Hoàng Chương, Ðỗ Tốn (tác giả Hoa Vông Vang), các nhạc sĩ Ðan Thọ, Nguyễn Hiền, Xuân lôi, Xuân Tiên…. và đặc biệt, trực tiếp làm dưới quyền tôi có 2 người viết bình luận rất giỏi. Ðó là anh Nguyễn Th.T. (cựu đảng viên VNQDÐ) và Nguyễn Tâm Thăng. Chương trình của Phát Thanh Quân Ðội có nhiều mục Tố Cộng ác liệt, tạm kể hai chuơng trình … “ác liệt” nhất, đó là: TỘI ÁC CỘNG SẢN và ÐIỂM MẶT CHỈ TÊN Một Biên Tập Viên của Phần Phát Thanh Quân Ðội lên trình diện Tổng Thống Ngô Ðình Diệm Hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại. Mình chửi địch thì địch cũng chửi mình không thua chút nào. Cho tới một ngày, có chỉ thị cho … biên tập viên nào viết bài ấy, phát thanh ngày ấy tới trình diện Phủ Tổng Thống. Chúng tôi lo sợ cuống cuồng hỏi lại: - Trình diện ai ở Phủ Tổng Thống? Tại sao? - Ðến Phủ Tổng Thống sẽ biết trình diện ai và hiểu tại sao! Trước khi đi, cho biết tên người Biên tập viên … để Phòng An Ninh ngoài cổng dẫn vào. Cuối cùng, sau khi anh Nguyễn Th T. lên Phủ Tổng Thống trở về Ðài, thì chúng tôi cũng vỡ lẽ dần dần v/v trình diện Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Ông chỉ muốn coi mặt cho biết ông Biên Tập Viên nào mà làm rùm chuyện Tố Cộng để Ðài Hanoi chửi lại anh em họ hàng nhà ông. Nói về phần xướng ngôn, lúc đó, có nhiều người chủ quan cho rằng xướng ngôn viên Ðài Phát Thanh Quốc Gia ở đường Phan Ðình Phùng không tài nào bì kịp với xướng ngôn viên của Phát Thanh Quân Ðội chúng tôi. Nam xướng ngôn viên, chúng tôi có Trung Úy Văn Thiệt. Nữ xuớng ngôn viên, chúng tôi có 2 cô Lệ Hiền và Mỹ Linh. Thật ra, cả 2 đài Quốc Gia hay Quân Ðội đều có nhiều xuớng ngôn viên đọc rất tốt, giọng thật chuyên nghiệp và rõ ràng. Ở đây, anh Ðan Thọ phổ nhạc bài thơ đầu tay của tôi trong một đêm trực. Sáng sớm, nhạc sĩ Ðan Thọ gọi tôi dậy uống cà phê rồi nói cho tôi nghe. Hoá ra cả đêm ông ấy phổ nhạc bài thơ này quên ngủ. Ðó là bài “Mimosa thôi nở”. Làm việc ở đây rất dư thì giờ. Tôi vừa học thi đậu Tú Tài vừa viết báo Ngôn Luận (mục thơ trào phúng mỗi ngày) kiếm thêm tiền. Ðài Phát Thanh Quân Ðội Ðông Hà và Ðài Nha Trang Theo đơn xin, tôi được chấp thuận đổi ra Ðài Ðông Hà, tôi rủ Trung Úy Ðặng Trí Hoàn (nhà thơ Hà Huyền Chi) đi theo làm phụ tá Quản Ðốc Ðài. Thời gian này chúng tôi tuyển cô Hoàng Xuân Lan, một nữ sinh ở Ðà Nẵng làm xướng ngôn viên. Cô Xuân Lan này sau đó về Saigon phụ trách chương trình Dạ Lan rất nổi tiếng trên Ðài Phát Thanh Quân Ðội. Và tôi nhớ thời gian ở Ðông Hà có… chút kỷ niệm với Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu. Số là, Phòng An Ninh Quân Ðội của Sư Ðoàn 1 báo cáo sao đó, Ðại Tá Thiệu gọi tôi tới hỏi: - Có phải đài anh phát chương trình mỗi ngày 50% chửi Cộng Sản Miền Bắc và 30% chửi chính phủ & Quân Ðội VNCH, 20% chạy các chương trình nhạc? Và lệnh ai? Tôi xác nhận và trình bầy đây là Ðài theo chuơng trình XÁM và lệnh của Nha Chiến Tranh Tâm Lý chỉ thị chúng tôi làm chương trình như vậy. Năm 1955, khi còn mang cấp trung tá, ông Nguyễn Văn Thiệu là vị Chỉ Huy Truởng Trường Võ Bị Liên Quân Ðalat lúc chúng tôi vừa nhập trường. Ông là một trong số sỹ quan cấp tá ưu tú nhất của quân đội VNCH lúc đó. Khóa 12 chúng tôi là Khóa đầu tiên khi ông Thiệu về coi trường nên ông như có cảm tình riêng, thương chúng tôi hơn các đệ tử khác của ông. Vì thế khi nghe tôi trả lời xong, ông nói: - Anh là cấp nhỏ, chỉ thi hành việc này. Lỗi không phải ở anh. Nhưng cơ quan các anh làm việc trong khu 11 Chiến Thuật của tôi mà lại không cho chúng tôi hay biết để phối hợp khi cần thiết. Như vậy tôi không chịu trách nhiệm khi có vấn đề an ninh xẩy ra. Riêng đài của anh, tôi chỉ thị trung doàn 3 vẫn cấp xe Jeep và cấp số xăng hàng tháng cho các anh. Anh về được rồi. Ðường đời muôn vạn nẻo, thế mà qua công việc, tôi còn gặp lại Ông Thiệu nhiều lần nữa. Ở Ðông Hà chưa được bao lâu, tôi nhận chỉ thị đến Quảng Ngãi để làm Quận Truởng Quận Minh Long, một quận Miền Thượng. Sau đảo chính 1/11/1963, tôi xin từ nhiệm trở về Quân Ðội. Lêu bêu ở Nha Chiến Tranh Tâm Lý một thời gian, tôi sang gặp Niên trưởng Vũ Ðúc Vinh, lúc đó vừa từ Không Quân về làm Tổng Giám Ðốc Cục Vô Tuyến Truyền Thanh, xem có chỗ nào xa Saigon thì cho tôi một chỗ. Ông vui vẻ nhận lời. Và sau đó ông đưa tôi ra Nha Trang coi Ðài Phát Thanh địa phương. Ở Ðài Nha Trang không lâu, tôi có lệnh của Cục bàn giao cho anh Nguyễn Bảo Sỹ, rồi về làm việc ở Ðài Saigon. Ông Vinh cấp cho tôi một giấy khen, đề nghi thăng cấp cho tôi lên Thiếu Tá và ít tuần sau, khi anh Nguyễn Ngọc Linh liên lạc sao đó, ông cũng cho phép tôi rời Vô Tuyến Truyền Thanh về làm Giám Ðốc Nha Nghiên Cứu Kế Hoạch của Tổng Nha Thông Tin Báo Chí. Về phía quân sự, tôi xếp ông Vinh vào “Top Five” và tới nay tôi vẫn còn rất kính trọng ông qua phong cách chỉ huy và đạo đức tác phong trong thời gian tôi làm việc dưới quyền ông. Chưa được bao lâu, Nội Các đổ, cả làng tan hàng, tôi lại từ biệt cơ quan dân chính, trở về Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, trông coi Ðài Phát Thanh Quân Ðội/Saigon với sự giúp đỡ của Trung Tá Nguyễn hữu Duệ, Trưởng Khối Tổ Chức/Nhân Viên của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị vì vừa vặn Tổng Cục đang cần một Quản Ðốc mới cho đài này. Đài Phát Thanh Quân Ðội/SaiGon. Giữa năm 1968, lúc này là vào giai đoạn 2 của chiến dịch Mậu Thân, Cộng Sản thường pháo kích hỏa tiễn vào Saigon mỗi đêm. Tôi liên lạc với Biệt Khu Thủ Ðô để có tin và loan cho thật nhanh. Bản tin cũng viết cẩn thận không cho địch biết chúng đã pháo trật hay trúng mục tiêu… quân sự mà đa số chỉ rơi vào khu vực dân ở ! Chương trình Dạ Lan lúc này đã phải ngưng một thời gian vì cô Dạ Lan xin nghỉ việc... Thư lính gửi về Ðài tràn ngập mỗi ngày, than phiền vì chương trình Dạ Lan hay quá mà tại sao chương trình này chạy không đều, có lý do gì không ? “Ðài Phát Thanh Quân Ðội Saigon là cái nôi của tôi từ khi tôi còn là Trung Úy nên tôi biết khả năng gần như hầu hết mọi người. Tôi trình với anh Lê đình Thạch, Trưởng Khối, để coi kỹ lại chương trình này. Như vậy, Dạ Lan, tên chương trình Binh Vận của Ðài Phát Thanh Quân Ðội, mới đầu do xướng ngôn viên Hoàng Xuân Lan (Dạ Lan 1) thuộc Đài Đông Hà đổi về, phụ trách từ 1964 tới 1966. Từ 1967-1975, xướng ngôn viên Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2), cũng là Mỹ Linh, đã trông coi chương trình Nhạc Yêu Cầu của Đài từ 1957, thay Dạ Lan 1 khi Dạ Lan 1 đổi lên làm việc tại Đài Phát Thanh Đa Lạt. Cả 2 xướng ngôn viên này, người gốc Đà Nẵng, người gốc Huế nói giọng rất hay; nhưng về phần bình luận thì Lệ Hiền (nữ) và thiếu tá Văn Thiệt (nam) là 2 xướng ngôn viên không có đối thủ ở VN suốt từ 1955-1975.” (**) Các biên tập viên và phóng viên của Ðài Quân Ðội gồm có nhiều người giỏi. Một số họ là chuyên viên của Ðài Saigon bị động viên, học Trường Bộ Binh Thủ Ðức 9 tuần là về Ðài Quân Đội trong khi chờ có dịp là trở lại Ðài Saigon. Tôi còn nhớ các anh Dương Ngọc Hoán (Trưởng Ban) Lê Thái, Huỳnh văn Trung, Dương Phục, Nguyễn Mạnh Tiến trong ban Tin tức và anh Phan Thế Hùng trông coi phần bình luận biên tập, người nào cũng rất đàng hoàng về giờ giấc và trong công việc chuyên môn thì tuyệt vời. Có thể nói, Phan Thế Hùng là người viết bình luận không thua gì anh Nguyễn Tâm Thăng ở Phần Phát Thanh Quân đội 10 năm trước đây. Và một người nữa, đó là Trung úy Quách Vĩnh Trường, khoá 20 Võ Bị Ðà Lạt. Ông này bị tàn phế 170% vì vết thương ở ngoài mặt trận. Tôi thấy Trường còn viết, đọc được tại sao không dùng ông sỹ quan này? Tôi nhận và Trường phục vụ ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội, làm việc đâu ra đó, học cử nhân luật, đậu thủ khoa, và khi đài đề nghị anh cũng lên cấp Ðại Úy như các sỹ quan bình thường khác. Lại trình diện Phủ Tổng Thống! Một chuyện khá đặc biệt mà tới nay tôi còn nhớ mãi. Ðó là … lệnh thượng cấp ngày ấy, giờ ấy, Ðài Phát Thanh Quân Ðội chúng tôi : gồm Quản Ðốc và 4 nguời nữa do tôi chọn để vào Dinh Ðộc Lập. Toàn là lệnh trực tiếp chứ không phải qua cấp chỉ huy của chúng tôi. Trình lên thì cấp chỉ huy nói: - Phủ Tổng Thống đã có lệnh gọi thì các anh cứ đi! Bên Phòng Báo Chí cũng có toán 5 người được mời gồm anh Nguyễn Ðạt Thịnh và mấy người trong Ban Biên Tập Chiến Sĩ Cộng Hoà, Tiền Phong & Diều Hâu mà anh ấy chọn lấy. Kỳ lạ là sao không có đại diện bên nhật báo Tiền Tuyến và Ðại tá Cục Truởng Cục Tâm Lý Chiến hay Trung Tướng Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị dẫn chúng tôi vào Dinh Ðộc Lập. Ðúng giờ hẹn tới nơi chúng tôi được ông Hoàng Ðức Nhã, Bí Thư kiêm Tham Vụ Báo Chí Tổng Thống cho biết: - Bữa nay, ngày đẹp trời, Tổng Thống cho mời các anh em tới nói chuyện và ở lại ăn cơm chiều với Tổng Thống . Ðặc biệt quá! Ngạc nhiên vô cùng. Hạ sĩ quan, sỹ quan nhìn nhau rồi họ nhìn tôi. Trời ơi ! Ăn cơm với Tổng Thống ở Dinh Ðộc Lập ?? Chúng tôi chưa hết sửng sốt, ông Nhã lại mỉm cười rồi nói thêm: -Tổng Thống nghe Trung tướng Trung trình lên. Và Tổng Thống cũng nghe radio đọc báo thuờng xuyên, biết các anh em làm việc vất vả, lâu lâu cũng muốn anh em thoải mái một chút. Chúng tôi lai rai nói đủ thứ chuyện với ông Bí Thư trẻ tuổi đẹp trai này về phần thời sự quốc tế quốc nội thật thoải mái chừng nửa giờ thì Tổng Thống Thiệu từ Dinh Ðộc Lập đi ra. Ông bắt tay mỗi người, ngồi xuống nói chuyện với ông Nhã và toán 10 người chúng tôi thật là vui. Vì ông Thiệu đã ở trong quân đội lâu năm trưóc khi làm Tổng Thống, ông dùng ngôn ngữ lính chúng tôi nói chuyện về đời quân nhân nhiều hơn là chính trị. Và nhớ nhất là bữa cơm chiều từ nhà hàng đem tới khá ngon; hơn nữa, chúng tôi hãnh diện vì được ăn ở hoa viên của Dinh Ðộc Lập với Tổng Thống. Với cá nhân tôi, nào đâu có ngờ, bữa ăn này rất quan trọng, và mãi hơn 30 năm sau mới biết được. Tôi sẽ kể lại chuyện này nơi cuối bài. Nha Vô Tuyến Truyền Thanh (Hệ Thống Truyền Thanh Việt Nam) Giữa năm 1970, vì lý do riêng, tôi nộp đơn xin theo học Khoá Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp trên Ðalạt, bàn giao đài lại cho anh Văn Quang. Cũng đã vài lần gián đoạn trong đời quân ngũ rồi : - Lần đầu được chỉ định đi làm Quận Trưởng ở Minh Long Quảng Ngãi khi đang coi đài Phát thanh Quân Ðội Ðông Hà và Phần Phát Thanh Quân Ðội Huế ; - Lần thứ hai, khi tôi sang xin anh Vũ đức Vinh cho đi coi đài địa phương ; và lần này xin đi học. Tôi đã được anh Cát, Niên trưởng Võ Bị DaLat khoá 8, lâu đời ở Tổng Cục Quân Huấn cảnh cáo trước: - Khóa này dành cho cho cấp Trung Tá và Ðại tá. Cấp thiếu tá, phải có bằng tham mưu trung cấp, mày cấp Thiếu tá, may có bằng Tham Mưu Hàm Thụ, tạm đủ điều kiện theo học. Nhưng lên trường Chỉ Huy Tham Mưu Ðà Lạt mọi người còn phải qua kỳ thi sát hạch. Ông Tướng Nguyễn Bảo Trị, Chỉ huy trưởng Trường này khó lắm. Nhiều khoá sinh sau khi thi sát hạch để được Trường chính thức nhận vào học đã bị trả lại đơn vị. Ngay cấp trung tá, nhiều anh học xong, thi mãn khoá, nếu điểm thấp cũng bị trượt. Không dễ gì đâu! Cũng may tôi không bị trả về và thi ra trường cũng không bị vỏ chuối. Nhưng vào gần cuối Khoá học có một tin khá vui không biết ở đâu tung ra khiến anh em phóng viên bên đài Saigon phổ biến: - Giám Ðốc Ðài Phát Thanh Saigòn sắp bị thay thế. Người về thay sẽ là Thiếu Tá Phạm Hậu, trước ở Ðài Quân Ðội. Lúc đó Trung Tá Lê Văn Duyên, xếp cũ của tôi năm 1958 làm Giám Ðốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh, và sau đó, Ông Nguyễn Rô, Cao Học Hành Chánh, được Bộ cử về thay ông Duyên. Học xong khoá Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, tôi được trở lại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và làm ở đây chừng 4, 5 tháng thì có lệnh qua Bộ Thông Tin về coi Nha Vô Tuyến Truyền Thanh. Trung Tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục Trưởng, cho gọi tôi lên chuyện trò vài câu rồi căn dặn: - Bên Bộ Thông Tin xin với tôi cho anh qua Ðài Phát Thanh Saigon. Anh về đó làm việc cho đàng hoàng vì mình là gốc Chiến Tranh Chính Trị, và luôn nhớ làm được gì cho Tổng Cục cho Quân Ðội thì cố giúp. Ðây là lần thứ hai Tướng Trung đặc ân cho tôi. Lần đầu, đầu năm 1964, khi từ quận Minh Long về lại Tổng Tham Mưu chờ lệnh đi đơn vị, anh Vũ Quang Ninh, bảo tôi: - Ðại Tá Trung, xếp cũ của bọn mình Nha Chiến Tranh Tâm Lý trước, bây giờ coi Quản Trị Nhân viên của bộ Tổng Tham Mưa, cậu lên đó cứ nói là người của Chiến Tranh Tâm Lý cũ, ông ấy cho cậu về lại Nha ngay đó. Ông ấy đã giúp nhiều người lắm rồi. Ông ấy tốt lắm. Tiện đây cũng xin có đôi lời về anh Vũ Quang Ninh, anh Vũ Văn An, và anh Nguyễn văn Minh. Cả ba ông niên truởng ở Quân Ðoàn I này đều là những cấp chỉ huy đàng hoàng và họ rất tốt với tôi. Chính họ là những người góp phần trong việc tôi được cử đi làm Quận Trưởng Minh Long. Việc này bất ngờ nhất, mãi hơn 40 năm sau tôi mới được anh An và anh Minh tiết lộ khi tôi nêu thắc mắc. Mà vì tôi hỏi họ, họ mới nói, chứ không hỏi chắc họ cũng “quên” luôn theo thời gian. Nhờ anh Vũ Quang Ninh, chỉ giúp tôi mới biết đường lần tới tướng Trung. Xin cám ơn anh Vũ Quang Ninh, lúc nào chúng tôi cũng luôn nhớ tới anh. Về đài Phát Thanh Saigon, sắp xếp lại các đài phát thanh địa phương xong, thấy phần Quản Trị và Kỹ Thuật thì đã vào khuôn nếp từ lâu với cấp chỉ huy đủ khả năng, tôi yên tâm dồn nỗ lực vào phần Thời Sự và Chương Trình. Rất tiếc anh Nguyễn Tâm Thăng chủ sự Phòng Bình Luận, người viết những bài bình luận tuyệt vời năm xưa của Phần Phát Thanh Quân Đội, không muốn làm Chủ Sự nữa. Tôi mời 2 anh Nguyễn Th.T. (đã về hưu) và anh Phan Thế Hùng viết bình luận. Sau này các anh Lê Thái, Vũ Ánh, Nguyễn Thiên Ân – những phóng viên, biên tập viên của Ðài - viết bình luận cũng rất hay và rất nhanh, nhất là Vũ Ánh và Nguyễn Thiên Ân; vì thế dần dần tôi không phải thuê riêng các anh Nguyễn Th.T và Phan Thế Hùng nữa. Nhưng vẫn phải nhờ chị Lệ Hiền bên Ðài Quân Đội giúp cho phần đọc bình luận trong giờ bản tin chính. Viết thêm về trường hợp Dạ Lan Mới về coi Nha Vô Tuyến Truyền Thanh 2 tuần thì một buổi sáng cô Hoàng Xuân Lan, tức Dạ Lan 1… từ Đalat về, gặp tôi, xin vào làm tại Đài Phát Thanh Saigon. Lúc đó không trống chỗ xướng ngôn viên, nhưng tôi biết khả năng của cô Hoàng Xuân Lan, người em gái hậu phương năm nào xa xưa … gửi thư tới chị Linh Lan trên Văn Nghệ Tiền Phong, “nhờ chuyển thơ cho … thi sĩ nhất tuấn” Ngày ở Đài Đông Hà, cô còn nhỏ tuổi, tôi để Sỹ Quan Phụ Tá Đài chỉ bảo cho cô, coi như người em. Sau này về Saigon, cô đang nổi danh tột cùng trong chương trình Dạ Lan thì bị báo chí ( ký giả Tô Văn chủ chốt, rồi nhiều báo khác ùa vào… hội chợ ) chỉ trích hàng loạt. Tôi khi đó không làm việc tại Đài Phát Thanh Quân Đội, nhưng thấy Đài không một ai lên tiếng. Huy P., Mai Trung T., Nhật Trường, Dương Ngọc H. …đâu cả rồi ? Cả Nha Chiến Tranh Tâm Lý, cũng yên lặng. Khó hiểu ! Tôi đơn phương nhẩy vào trận chiến và đã viết một bài khá dài kể lại hết kỷ niệm của Hoàng Xuân Lan với đài Phát Thanh Đông Hà, khi có Hà Huyền Chi, nhất tuấn ở đó. Tôi quen gia đình cô Hoàng Xuân Lan, Dạ Lan 1, biết cụ thân sinh và 2 bà chị của Dạ Lan 1 ở Đà Nẵng. Lâu quá, quên rồi, nhớ loáng thoáng ... bài của nhất tuấn là bài duy nhất bênh Hoàng Xuân Lan, Dạ Lan 1 ngày đó in trên tuần báo Điện Ảnh của anh Mai Châu. Ngay sau đó, thân phụ cô Dạ Lan 1 từ Đà Nẵnng vào gặp và cám ơn tôi cùng thiết tha gửi Dạ Lan 1 cho tôi. - Ông Đại Úy đã cho cháu làm việc từ Đông Hà. Cháu nó còn dại lắm, nay nó vào Saigòn xin ông đại úy giúp đỡ dậy bảo cháu.. Cô Hoàng Xuân Lan, Dạ Lan 1 vào ngành phát thanh sau cô Dạ Lan 2 (Hồng Phương Lan-Mỹ Linh) cả 5 năm nhưng ngay cả khi làm chức vụ Kiểm Soát Viên Phát Thanh, dưới quyền giáo sư Lã Quý N. ( bạn tôi) cô cũng làm việc rất đàng hoàng. Gần đây, anh Hoàng Hải Thủy có đăng hình Dạ Lan 1. Tấm hình này , khi nhà nhiếp ảnh tài danh Nguyễn Kỳ, (người đã chụp rất nhiều hình cho quý vị nữ sinh Trung Vương giữa thập niên 1950 và cho cả Dạ Lan 1 giữa thập niên 1960), anh Hoàng Hải Thủy qua Mỹ trễ, liên lạc với tôi, hỏi địa chỉ Dạ Lan 1, tôi cho số điện thoại ngay… và hai người liên lạc lại tốt đẹp. Ký giả Anh Vân (Take2Tango) cùng viết với tôi trên Văn nghệ Tiền Phong Hải Ngoại và Tiểu Thuyết Nguyệt San của anh Hồ Anh (thời gian thi sĩ Hoàng Anh Tuấn làm với Hồ Anh, trước các anh Tạ Quang Khôi, Hà Bỉnh Trung, Hoàng Ngọc Liên), đã kỳ công làm được cuộc phỏng vấn và kiếm tấm hình Dạ Lan 2 posted trên Take2Tango . Ôi nếu viết về Dạ Lan 1 và Dạ Lan 2 thì liên miên . Còn những bài thơ Đêm Ngà Ngọc… … “….Giấc ngủ đông dài em đã dậy Hoa đăng bừng sáng giữa trời mê Tình dâng lấp kín Đêm Ngà Ngọc Hương dạ lan xưa biển gọi về. Thôi khóc chi em ngày tháng cũ Ngàn sau xin đổi một đêm nay Đây hồn đã trải xin em ngự Rót hết cho nhau những đắng cay. Sa mạc nghìn trùng anh đã khát Từng âm thanh nhỏ của yêu đương…” ĐHCT (Gác trọ tháng 10/1988) Tháng Tư Đen, có một người tù , sau hơn 13 năm nơi Đại Học Máu , thóat chết bao lần…bơ vơ giữa cuộc đổi đời, trên căn gác trọ nghèo nàn …tương tự như trường hợp Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh đang muốn chết đi, bỗng gặp và ân ái với vợ của Đoàn chính Thuần. Thế cho nên, Đoàn Chính Thuần tưởng chính là bố của công tử Đoàn Dự, vua lăng ba vi bộ, nghĩa đệ của Kiều Phong, Bang Chúa Cái Bang. Ai có ngờ đâu…. Ôi viết về Dạ Lan 1 và Dạ Lan 2 thì liên miên . . Người vào nghề Phát Thanh năm 1957- 1958 thì là Dạ Lan 2, người vào nghề sau 1962 lại là Dạ Lan 1. Thế là thế nào?... Mà sự thực chính là như vậy !! Tác giả giờ đây cũng lẫn lộn về tâm trí từ 2004 (bệnh Alzhmer), không sao nhớ chắc về ngày tháng, chi tiết. Nhưng còn nhớ khá rõ: Cả hai Dạ Lan 1 va Dạ Lan 2 hiện còn sống. Dạ Lan 1 nổi danh với Chương trình Dạ Lan (64-66) thì ở với Đài Phát Thanh Quốc Gia Saigon tới phút chót, khi Ông Vũ Ánh bàn giao Đài cho Bắc Quân, rồi sau đó ... nổi trôi theo mệnh nước. Hiện có con gái (cháu Từ Ngọc Ánh Ngọc cùng gia đình ở Pháp). Còn bà mẹ cháu, Dạ Lan 1 khi ở nhờ trong Chùa, khi ở trọ, làm công tác Thiện Nguyện, vẫn suốt đời trân quý những ngày tháng trong ngành Phát Thanh từ Đông Hà (1962) tới Saigon, tới Dalat, từ 2 đài Quân Đội tới 2 Đài Phát Thanh Quốc Gia. Dạ Lan 2 nổi danh với chương trình Dạ Lan từ 1967 toi 1975, đã phục vụ Đài Quân Đội từ 1957 tới Tháng Tư Đen 1975 . Dạ Lan 2 , nhân viên, cũng như Văn Quang, Quản Đốc Đài, cùng kẹt lại ở ở VN chịu bao gian khổ như mọi người. May mà sau này, ông chồng Dạ Lan 2 và vài người con trai liều chết vượt biên nên sau đó Dạ Lan 2 và con nhỏ cũng đoàn tụ cùng gia đình ở Mỹ. Bây giờ Dạ Lan 2 vẫn làm việc thiện nguyện khi có đoàn thể nào xa, gần ... nhờ tới Dạ Lan 2 để làm xướng ngôn viên cho các chương trình đặc biệt. Có thời gian khá lâu, nghe nói khi qua Mỹ, Dạ Lan 2 dậy tiếng Việt cho những người Mỹ. Cả 2 Dạ Lan 1 va Dạ Lan 2 đều còn sống. Cả những người coi Đài Quân Đội va Quốc Gia liên hệ tới 2 Dạ Lan còn sống: các cựu Trung Tá Nguyễn Văn Thúy, Phạm Hậu, Văn Quang ... Những người liên hệ tới Chương Trình Dạ Lan (Đài Quân Đội) và Dạ Lan 1: Thi sĩ Hà Huyền Chi, Đỗ Duy Chương, Dương Ngọc Hoán, Nguyễn Văn Nam, còn sống cả. Ông Nguyễn Kỳ, người chụp hình Dạ Lan 1 vào năm 1964 và sau này qua Mỹ tìm liên lạc được với Dạ Lan 1 (2007/2008?) v/v tấm hình lịch sử ngày đó, cũng còn sống mà. Ông Vũ Ánh người bàn giao Đài Phát Thanh Quốc Gia/Saigon, 11 giờ trưa ngày 30/4/1975 cho CSBV còn sống mà. Dạ Lan 2: Đài Quân Đội với các ông cựu Quản Đốc Vũ Quang Ninh, Vũ Đức Minh, Phạm Hậu, Văn Quang còn sống cả mà. Cứ từ từ tìm hiểu ngọn ngành. Nên giữ lại những kỷ niệm tốt đẹp của Miền Nam, nhất là Nhóm Biên Tập Viên/Phóng Viên của cả 2 Đài ... họ giỏi lắm lắm. Các Kỹ Thuật Viên, cac chuyên viên chương trình họ cũng giỏi, rất giỏi về chuyên môn và rất yêu nghề. Họ, Hành Chánh Quản Trị, Chương Trình hay Kỹ Thuật, đã cùng chịu muôn ngàn hung hiểm qua những biến cố của Đài hồi Tết Mậu Thân (1968) và những trận đánh ngoài chiến trường... luôn cả khi ra Hà Nội 1973 ( Dương Phục, Phạm Huấn, Nguyễn Đình Tòan : Một Ngày Tại Hà Nội) Dạ Lan 2, một trong vài người thâm niên nhất trong ngành Phát Thanh Quân Đội , từ Phần Phát Thanh Quân Đội Huế, rồi ở với Đài Phát Thanh Quân Đội/Saigon 1957, khi trụ sở Đài còn ở Hồng Thập Tự, lúc nhất tuấn cũng như Văn Quang người ở Pleiku, người Quy Nhơn, đều chưa làm Phát Thanh thời gian đó. Sau Tháng Tư Đen Văn Quang vào Trại Cải Tạo, Dạ Lan 2 cùng bạn đồng nghiệp Phát Thanh Quân Đội cũng nếm đủ vinh nhục, trải bao dâu biển. Nhưng chỉ có Dạ Lan 1, Dạ Lan 2 cùng Văn Quang và Vũ Ánh là sống chết với Đài Phát Thanh Quốc Gia & Đài Phát Thanh Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa Miền Nam thân yêu của chúng ta tới phút cuối cùng. Hy vọng trước khi chết, nhất tuấn sẽ viết thêm về những người rất đặc biệt của ngành Phát Thanh như Huy Quang Vũ Đức Vinh, Văn Quang và Vũ Ánh, những người mà nhất tuấn vẫn rất kính phục, biết ơn và cầu nguyện cho họ. Lại... Ướt Mi !! (tôi cung cấp địa chỉ số điện thoại của hai vị phu nhân DL 1 DL 2… Vì nay họ gần & ngoài 70 tuổi. Mong Khánh Ly.Net/Phố Xưa có dịp mời họ họp mặt hàn huyên với các cựu quân nhân & Gia Đình Quân Nhân và tất cả chúng ta, những người đã và vẫn quý mến Chương Trình Dạ Lan) (**) ……. Hào hứng nhất là trên luồng sóng của đài Phát Thanh Saigon và các đài địa phương tiếp vận lại, khi chúng tôi nhận lệnh của ông Hoàng Ðức Nhã, đả kích đích danh các nhân vật Hoa Kỳ: Kissinger, và ông ứng cử viên tổng thống thượng nghị sĩ Mc.Govern (người gọi Saigon là một Ổ Điếm) ép VNCH về vụ hoà đàm 1971-1973. Mong có dịp viết thêm với nhiều chi tiết về ông Nhã trong những năm tác giả làm việc với ông này. Ðiều chính mà thượng cấp chú ý và theo dõi rất kỹ là: - Nha Vô Tuyến Truyền Thanh có làm đúng 100% chỉ thị để thông tin và quảng bá lập trường VNCH tới đồng bào, chiến sĩ và thính giả khắp nơi. Thật sự, không những làm đúng, chúng tôi đôi khi làm mạnh hơn, bằng cách cùng với phần bình luận là chính, còn rải rác khắp chương trình 24/24, như mãn thiên hoa vũ, khắp tiết mục: phỏng vấn, giáo dục đại chúng, phóng sự, kịch, spot announcements ..v..v…để gài những điểm chính mà thượng cấp đã chỉ thị phổ biến sao cho thật rộng rãi. May mắn cho tôi nhất là được thừa hưởng các lớp biên tập/phóng viên đã được huấn luyện chuyên môn kỹ từ thời 2 vị giám đốc tiền nhiệm là các anh Nguyễn Ngọc Linh và Vũ Ðức Vinh. Ngày truớc họ là những sinh viên đại học vào nghề truyền thanh và rất yêu nghề, tôi đã quen biết họ khi tôi làm ở Ðài Phát Thanh Saigon từ 1967, và lại chỉ huy một số khi họ bị động viên tới làm ở Ðài Quân Ðội. Ða số tôi coi họ như em, như bạn. Ðến thời gian tôi làm Giám Ðốc, thấy rõ khả năng của họ, tôi không ngần ngại đề cử họ làm Chánh sự vụ, Trưởng phòng hay Quản Ðốc đài địa phương. Còn nhớ mãi khi Tổng Thống Thiệu đến Đài Phát Thanh Saigon đọc bài nói chuyện với toàn dân toàn quân về các chiến dịch Trị Thiên, An Lộc, Kontum. Ông vừa dứt lời bài nói chuyện thì chỉ không đầy ít phút sau, đã có bài bình luận của đài, với giọng Nguyễn Thiên Ân vang trên làn sóng. Ngay sau chiến dịch Lam Sơn 719, những phóng viên của Ðài Quốc Gia , cũng cùng với các phóng viên bên đài Phát Thanh Quân Ðội, tiếp tục đi tới các mặt trận khác. Từ tuyến đầu lửa đạn họ làm những bản tin, phóng sự thu thanh. Họ vào Quảng Trị, Kontum, An Lộc nhiều lần. Như Nguyễn Mạnh Tiến, tường thuật cuộc viếng thăm của Tổng thống Thiệu ở An Lộc từ phút đầu tới phút cuối trong khi Bắc Quân vẫn pháo đều quanh thị trấn Bình Long. VIỆT NAM THÔNG TẤN XÃ Gần cuối năm 1974, tôi qua Việt Tấn Xã với chỉ thị của ông Nhã: - Anh qua Việt Tấn Xã, nhưng anh vẫn phải phụ trách phần bình luận cho Tổng Cục Truyền Thanh & Truyền Hình mỗi ngày. Lệnh của xếp thì cứ theo, nhưng ở Việt Tấn Xã chỉ có anh Lê Phú Nhuận từ Hệ Thống Truyền Thanh theo giúp, và anh Bùi Ngọc Dung, Tổng thư ký là có sự quen biết sơ, còn toàn nhân viên kỳ cựu bao năm ở cơ quan này… và chưa làm được bao lâu thì lại có thay đổi nội các. Tôi bàn giao cho anh Nguyễn Ngọc Bích rồi về lại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị …và tan hàng; khoảng 2 giờ chiều ngày 30/4/75, theo một con tầu nhỏ, vợ chồng tôi thoát khỏi Saigon trong đuờng tơ kẽ tóc. Kỳ dự Ðai hội Truyền Thông ở Houston tháng 04/2004, tôi gặp lại các cấp chỉ huy cũ, anh Vũ Ðức Vinh, anh Nguyễn Ngọc Linh. Ai cũng ngoài 70 và… đẹp lão cả rồi!! Gặp cả hai vị tiền nhiệm và kế nhiệm ở Nha Vô Tuyến Truyền Thanh, các anh Nguyễn Rô, Phạm Bá Cát. Gặp luôn cả nguời kế nhiệm tôi ở Việt Tấn Xã là giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, em anh Nguyễn Ngọc Linh. Ðặc biệt nhất, gặp lại người xướng ngôn viên Ðài Ðông Hà (1961), anh Ðịnh là phi công trực thăng lâu đời sau khi rời Ðài Ðông Hà, và những đồng nghiệp các ngành Quản Trị, Kỹ Thuật, Biên Tập ở Ðài Saigon và các đài địa phương. Tôi nhận thấy một điều rõ rệt, các kỹ sư, cán sự kỹ thuật, phóng viên, biên tập viên tay nghề giỏi ở VN trước 1975 như anh Trần công Thân, Nguyễn thiên Ân, Dương Phục, Vũ Thanh Thủy, Vũ Ánh, Nguyễn Mạnh Tiến, Lê Phú Bổnkhi qua Mỹ họ có việc cùng nghề ngay. Hơn nữa, họ còn là Giám Ðốc nhiều cơ sở chuyên môn, cũng như Ðài Phát Thanh địa phuơng, hay biên tập viên báo chí rất thành công . ****** Năm qua, tôi có hỏi 2 anh Nguyễn Ngọc Linh và Vũ đức Vinh, lý do hai anh đã chọn tôi vào các chức vụ. Quản Ðốc Ðài, Giám Ðốc Nha. Anh Linh cho hay: - Lâu quá rồi, để tôi nhớ lại coi. Hình như là Ðại Tá Huỳnh Văn Lang giới thiệu anh rất nồng nhiệt. Anh em tôi quý trọng Ðại Tá Lang lắm, nên dù không quen anh, chỉ biết anh là sỹ quan cấp tá ngành Chiến Tranh Chính Trị có khả năng nên mời anh về cộng tác. Việc Ðại tá Lang – một sỹ quan cao cấp người Miền Nam – giới thiệu tôi với anh Linh, thật xiết bao ngạc nhiên và tôi không hề biết vụ giới thiệu này tới khi anh Linh cho hay. Tiếc thay khi biết được thì đại tá Lang đã thất lộc. (Em: Thiếu úy Phạm Hậu ngày nào, xin cảm tạ Ðại tá đã giới thiệu em với anh Nguyễn Ngọc Linh. Nguyện cầu anh linh đại tá sớm hưởng Nhan Thánh Chúa). Cùng câu hỏi anh Linh, anh Vinh trả lời: - Năm xưa, anh thay tôi ở Đài Phát Thanh Quân Ðội đường Hồng Thập Tự khi tôi qua Không Quân. Anh làm thơ viết báo “Con quỳ lạy Chuá trên Trời” mùi mẫn lại đang muốn tìm việc mới. Trước đó, có truờng hợp vài người bên Không Quân muốn qua làm ở Cục Vô Tuyến Truyền Thanh, tôi đã từ chối. Nhưng tôi dặn văn phòng nếu ai ở Chiến Tranh Chính Trị qua, nhớ cho tôi biết ngay. Tôi vẫn muốn giúp anh em bên Chiến Tranh Tâm Lý, đơn vị cũ của tôi ngày xưa. Và trường hợp anh, thì tôi sẵn sàng giúp! Mà tôi giúp anh, chọn anh là đúng quá rồi. Thắc mắc làm chi! Riêng về trường hợp tôi được chọn về Nha Vô Tuyến Truyền Thanh, lý do chính, tôi nghĩ, là may mắn được sự giới thiệu của ông Hoàng Ðức Nhã (*), khi ấy là Bí Thư kiêm Tham Vụ Báo chí của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, với vị tân Tổng Trưởng Thông Tin, ông Trương Bửu Ðiện, một ông xếp ngưòi Miền Nam, làm việc không kể ngày giờ, không kỳ thị Nam Bắc, và rất hiền lành, rất bình dân của chúng tôi sau này. Nghe được ông Nhã giới thiệu thì cũng chỉ biết vậy, và thầm nghĩ, chắc ngày làm việc ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội, ông này đã chú ý tới mình chăng. Qua đây, cuối đời nơi Ðất Khách, có lần hỏi ông Nhã như đã hỏi hai ông Linh và ông Vinh. Ông Nhã trả lời tôi khá chi tiết nhưng cũng rất thẳng thắn: “- Theo tôi, ở đời có hai yếu tố thành công: tài của mình (30%), và mình được cơ hội gặp cấp chỉ huy để có hoàn cảnh trổ tài chứng tỏ mình có khả năng (70%). Khả năng của Hậu, qua gần 4 năm coi Hệ Thống Truyền Thanh và Việt Tấn Xã, Hậu có làm việc được không, Hậu và chúng tôi đã biết, khỏi nói thêm. Vậy chỉ cần nói tới yếu tố đầu thật rõ ràng, dù chỉ 30% ! Hậu còn nhớ lần tôi mời Phát Thanh Quân Ðội và anh em bên Báo Diều Hâu vào Dinh Ðộc Lập, trong khi chờ TT xuống ăn cơm với chúng ta, tôi đã bàn sơ về đường hướng Thông Tin và tôi đang phác hoạ và muốn thi hành. Tôi còn nhớ mấy anh em cho tôi ý kiến rất thẳng thắn – nhưng tôi chỉ nhớ thái độ professional của Hậu, với những lời bàn luận rất sâu sắc. Sau buổi họp đó, tôi biết rằng Hậu là candidat của tôi để về Ðài Phát Thanh Sàigon. Phải nhắc lại rằng lúc ấy tôi không được biết Hậu nhiều, nhưng tôi biết phải lựa người có những đặc tính nào. Ðó là nhiệm vụ của người chỉ huy: tìm những người tài giỏi - giỏi hơn chính mình – để làm những việc quan trọn , và cho người đó đủ latitude để hoạt động. Khi tôi trình lên TT là tôi muốn đưa Hậu về Ðài Phát Thanh Saigon vì tôi cần có người với những đặc tính như tôi nêu trên, và sau khi TT coi hồ sơ của Hậu, thấy là dân Võ Bị thì thích thú, và hình như TT có nói với tôi rằng TT “còn nhớ anh chàng này”. The rest is history! Tóm lại, nếu có chút tài, dù may mắn được người tiến cử, giúp đỡ… mà anh không chứng tỏ thực tài khi vào công việc … thì sớm muộn họ cũng sẽ mời anh đi chỗ khác!” ******* Như ở đầu bài tôi đã thưa trước, đôi lúc ngồi tính sổ đời, thấy có nhiều chuyện ly kỳ khó giải thích nổi. Tôi không có họ hàng quen các nơi quyền thế, không chạy chọt, nịnh bợ, hay hối lộ ông bà lớn nào… để “đóng hụi” trước cũng như sau khi nhận những chức vụ Quản Ðốc, Quận trưởng, Giám Ðốc, Tổng Giám Ðốc… mà sao tôi gặp nhiều may mắn, thăng tiến bất ngờ, đặc biệt được nhiều người thương, âm thầm giúp đỡ, như có quý nhân phù trợ. Chắc chắn phía dân chính cũng như bên quân sự, và ngay cả trong những cơ quan tôi chỉ huy có nhiều người giỏi hơn tôi, bằng cấp văn hoá, cấp bậc cao hơn tôi mà họ không có cơ hội để phô triển tài năng. Như vậy thấy ngoài phần làm được việc, phục vụ sao cho hữu hiệu như ông Nhã nói ở trên , vấn đề gặp được người biết khả năng và giới thiệu mình cũng thật là rất quan trọng. Viết bài này, tôi xin có lời chân thành cám ơn những cấp chỉ huy đã tín nhiệm khả năng của tôi, chỉ huy hay điều hành, để tôi có cơ hội phục vụ. Cũng xin cám ơn sự cộng tác thân ái của các đồng nghiệp ngày xa xưa - trung ương cũng như địa phương - trong ngành Phát Thanh Quân Ðội và Phát Thanh Quốc Gia. Xin mãi mãi vẫn nhớ nhau như khi chúng ta còn làm việc bên nhau. .. với nhiều kỷ niệm vui buồn. Phạm Hậu (04/2005) (*) Xin coi Đời Lính II của nhất tuấn, Khai Trí, Saigòn, xuất bản, 10/1966. (**) Bài này đã đăng trong Kỷ Yếu của Vô Tuyến Truyền Thanh (04/2005) . Hôm nay, 12/02/2009 , chúng tôi liên lạc lạc với đại úy Dương N Hoán và Trung Tá Văn Quang, những người phục vụ tại Đài Phát Thanh Quân Đội tới 30/4/75, hỏi thêm chi tiết, cũng như đọc bài của ký giả Anh Vân nên sửa lại, lý do bài trước chúng tôi viết có nhiều chỗ khiếm khuyết vì nhớ sai sau thời gian xa Đài Phát Thanh Quân Đội quá lâu. Và viết thêm về Dạ Lan 1, khi cô bị báo chí Saigon ngày đó đả kích. Xin quý vị độc giả lượng thứ, và xin tùy nghi đọc thêm bài của ký giả Anh Vân về Dạ Lan 2 trên website : Take2 Tango, mục Thiên Hạ Sự và chọn số 3. Người ntuấn giúp để có hình Dạ Lan 1 là ông Nguyễn Kỳ, nhiếp ảnh gia nổi tiếng tại Saigon trước 1975. Không phải là nhà văn Hoàng Hải Thủy! -------------------------------------------------------------------------- (***) - Bí thư kiêm Tham Vụ Báo chí của TT Nguyễn Văn Thiệu (1967). - Tổng Ủy Trưởng Phủ Tổng Ủy Dân Vận, trực thuộc Phủ Tổng Thống (4/1973). - Tổng trưởng Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi (?-1973-11/1974). .
< Được sửa bởi: htp76 lúc 2/17/2009 2:48:35 PM >
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/17/2009 1:45:58 AM
|
|
|
Hu Vo
Thành viên đang: offline
|
Kính thưa chú nhất Tuấn, Thật là thích thú và xúc động khi đọc bài viết về kỷ niệm quý giá. Cháu đọc xong thấy “nể” chú bội phần. Cháu đang đứng trước núi Thái Sơn hùng vĩ mà lâu nay không ngờ. Xin dỡ mũ kính cẩn cúi rạp người bái phục chú. Điều làm cháu trân quý là chú cao cả như vậy mà chú vẫn hạ mình đối xử nhẹ nhàng thân ái, lúc nào cũng vui vẻ giúp đỡ và cư xử trìu mến đối với những kẻ hậu bối tầm thường như chúng cháu. Như thế chẳng ngạc nhiên khi biết ngày trước đi đâu chú cũng được mọi người thương mến, công việc hanh thông như là có quý nhân giúp đỡ. Vì Tài chú đã có mà cái Đức của chú còn lớn gấp bội. Hạnh Đức như một đóa hoa ngàn năm không héo và hương tỏa khắp nơi. Vài lời chân tình, chúng cháu xin trân trọng cảm tạ chú đã đóng góp và chia sẻ với chúng cháu những bài viết rất giá trị. Cháu xin phép chú để được mang bài viết đặc biệt này qua trang “Đài Phát Thanh”. Cảm ơn chú. Kính mến, HV
_____________________________
"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/17/2009 3:31:05 PM
|
|
|
htp76
Thành viên đang: offline
|
trả lời Hư Vô : Như đã thưa với thi-lão-hữu Minh Hao, chú không dám nhận là thi văn đại thi sĩ thì chú cũng không dám nhận Tài Đức gì đâu Hư Vô ơi. Là con người chú cũng đầy tội lỗi. Chú cố gắng tu tỉnh sửa đổi mỗi ngày. Tâm sự với Hư Vô và các bạn trẻ trên Phố Xưa, chú có chuyện gì cố gắng nhớ và nói thật thôi mà. Giữ liên lạc nhé và chỉ cho chú như anh Hồ Vũ, để chú có thể vào Phố Xưa mỗi ngày khi có chút thời gian, và đôi khi kể vài câu chuyện bên lề đã qua trong cuộc đời của người lính già: "Mũ đỏ, xanh, đen đều đội hết Làm tên lính giữ nướcc không xong !" Khi chú kể lại 3 người mà chú kính phục nhất trong ngành PT, cháu và độc giả sẽ hiểu hơn và đó là những người xứng đáng nhận lời khen của các bạn. ntuan (17/2/2009)
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/21/2009 5:30:39 PM
|
|
|
phan rang
Thành viên đang: offline
|
Chào chú Nhất Tuấn, Đọc bài viết của chú, cháu thích lắm. Cám ơn chú. Chúc chú luôn được sức khỏe dồi dào và viết tiếp kể nhiều chuyện nữa. Thân ái, PR
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/21/2009 6:25:18 PM
|
|
|
tokim
Thành viên đang: offline
|
Cám ơn Hư Vô chũng như các bạn yêu thơ đã đăng lại những bài thơ mà mấy chị em Kim đã yêu thích khi còn ở cái tuổi cắp sách đến trường. Ngày ấy Kim cũng có tập thơ "Truyện chúng mình" cuả thi sĩ Nhất Tuán, Nhưng sau khi các ông kẹ nhẫn tâm xé nát hết sách vở cuả gia đình trong đợt đánh tư sản. Mấy chị em cũng cố lấy lại được vài tấm và còn giữ tới bây giờ. Nay thì Kim lại có thêm nhiều bài nữa cho đầy đủ tập thơ "Truyện chúng mình"Thân ái
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/21/2009 10:16:22 PM
|
|
|
Hu Vo
Thành viên đang: offline
|
Chị Tố Kim mến, Cũng như Hư, chắc chú Nhất Tuấn lại xúc động khi nghe chị Kim nhắc chuyện đánh tư sản mục đích tiêu diệt văn hóa Miền Nam. Thật là buồn! Hôm nay, Hư đăng thêm những bài thơ sau để mến tặng chị Kim và để tưởng nhớ một người anh của Hư, anh rất yêu thơ Nhất Tuấn và anh đã bỏ mình trong cuộc chiến. Có chị Kim vào đây, Hư lại có hứng đăng thơ dài dài đó. Mưa Trên Đồn Canh Biên Giới Đồn biên giới một chiều mưa lạnh buốt Trên chòi canh đứng gác ngắm màn đêm Mây đồi xa trĩu xuống một màu đen Những cánh gió thở dài trên núi đá Bỗng dưng thấy lòng cô đơn lạ Dĩ vãng hiện về len lén trong hồn Dĩ vãng ngày xưa là “Kỷ niệm buồn” Của hai đứa còn yêu nhau thắm thiết (Thuở hai đứa đang yêu... mà chả biết) Tuổi thơ ngây chưa gợn vết nhơ đời Đan tay nhau, vui sướng nhỏen môi cười Xây những mộng... trời ơi toàn ảo mộng Vì từ thuở bốn phương rền tiếng súng Trót ra đi không hẹn một ngày về Để chiều nay, một chiều mưa lê thê Ôm súng gác trên đồn canh biên giới Nghe xao xuyến lòng mình rồi khẽ gọi Thầm kêu tên một hình bóng xa xăm Biết người xưa còn nhớ đến mình chăng Kẻ chiến tuyến thương về người hậu tuyến Từ dạo chia tay vẫn còn nhớ đến Một vành môi, đôi khóe mắt người xa Gió than dài như điệp khúc bi ca Nức nở mãi giữa chiều mưa biên giới Ôi cuộc sống thế nhân đầy tội lỗi Đến bao giờ mới hết nỗi thương đau Đến bao giờ hai đứa mới gặp nhau Để sống nốt những ngày hoa mộng cũ Nhất Tuấn ( Truyện Chúng Mình I, 1964) Thăm Người Lính Cao Nguyên Chiều muộn, lên rừng núi Thăm anh lính cao nguyên Mây đồi xa giăng khói Chìm dần trong mưa đêm Đây có những người trai Của núi rừng đất đỏ Ba lô nặng trĩu vai Từng hành quân gian khổ Hết ở “Pla-tô J” Lại sang miền “Dak-sut” Bụi nhòa bộ treillis Thân run trong giá buốt Vì dân anh diệt cộng Nào sá gì lầm than Chết cho mọi người sống Đem thân giữ giang san Đêm nay mưa rừng bay Thăm nhau trong chốc lát Ta cùng tay nắm tay Tìm vui trong điệu hát Rồi thanh bình trở lại Có những người em thơ Chờ anh về tâm sự Cho trọn niềm ước mơ Nhất Tuấn ( “Truyện Chúng Mình” I. 1964) Thư Gửi Một Người Các anh chiến sĩ nhẩy dù ơi Nhìn cánh dù bay ngợp khoảng trời Nhìn giải tang đen bên mũ đỏ Mà lòng thương nhớ quá đi thôi Từ khi dẹp loạn hết đô thành Dân thủ đô thường nhắc các anh Là những vì vua trên chiến trận Thấy đoàn mũ đỏ giặc lui nhanh Chiến thắng Hậu giang còn dậy đất Cờ bay lồng lộng buổi quân đi Kontum rừng núi quân khu bốn Gian khổ bao ngày có sá chi Rồi trận Kiến Phong đại chiến công Nghe tin mà náo nức vô cùng Máu thù ngập bể, thây xây núi Vạn tiếng quân reo rộn rã lòng Nhớ buổi quân về giữa thủ đô Đi trong những tiếng sóng hoan hô Hiên ngang đón nhận vòng hoa nhỏ Như món quà ai tặng bất ngờ Định viết cho anh nói thật nhiều Nhưng lời thơ ngắn ngủi bao nhiêu Đêm đêm đành chắp tay cầu nguyện Cho một người... mà... em rất yêu. Nhất Tuấn ( “Truyện Chúng Mình” I. 1964)
_____________________________
"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/22/2009 2:07:34 AM
|
|
|
htp76
Thành viên đang: offline
|
Hai chị Hư Vô, Tố Kim và bạn trẻ Phan Rang : Con đầu của chú sinh năm 1958. Chú đoán các cháu , thế hệ đọc thơ nhất tuấn, phải ngoài 50, 60 tuổi, vậy chú gọi các cháu là các anh các chị... thay cho con chú. Mong các cháu Ok cho. Ngày xa xưa khi Miền Nam chưa mất, các cháu đọc những vần thơ nhất tuấn viết, lúc đó tác giả mới trên 20, 30 tuổi. Anh Hồ Vũ và chị Hư Vô sẽ post những bài thơ từ tcm 1 tới tcm 6 (không có tcm 4) thì các cháu sẽ thấy thơ tình nt còn thơ mộng (với Hoa học trò, Chúa nhật này "Trẫm" nhớ Ái Khanh không?, Chọn Mầu Áo, Hoa Lòng...). Và thơ lính thì : nào nt nhớ Hanoi, nào nt mơ giải phóng Miền Bắc, nào nt với Niềm Tin..đầy tình yêu Hòa Bình tấm lòng nhân bản...nguyện cầu Thiên Chúa Thượng Đế trong mỗi thánh lễ để gặp lại nhau như mùa Noel năm nào khi còn: " tay trong tay nắm tình trong mắt ...lòng 4 mùa xuân, nguyệt 4 trời (thơ VHC hay Đinh Hùng?). Bây giờ thơ tình của nt là tình buồn , tan nát vì cả nước còn nát tan.. sau Tháng Tư Đen. Như Ảo Ảnh, Tan Vào Hư Vô, Em thấy gì chăng phía cuối trời? Và thơ Línhcua nt là...tâm sự u uẩn của những người lính già, bại binh... đang sông lưu đầy nơi viễn xứ... Mong các anh các chị, các bạn trẻ để lòng mình cùng hòa cảm với tâm sự người trong cuộc mà khônh quá buồn chán như Phan Rang đã than thở: thơ chú làm bây giờ u uẩn buồn quá. PRang ơi lòng con người buồn nên cảnh có vui đâu bao giờ?! ntuan
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/22/2009 2:40:14 AM
|
|
|
tokim
Thành viên đang: offline
|
Chú Tuấn kính mến. Cho phép Kim gọi như thế. Kim rất hiểu nỗi lòng cuả chú. Gia đình Kim cũng có hai người anh ở trong quân đội và cũng mang tâm trạng như chú hôm nay. Nhưng các anh phải mang nỗi buồn trong lòng. Không được như chú, có tài làm thơ, văn. Chú có thể trải lòng mình trên những vần thơ , những lời tâm sự trên trang giấy, còn các anh thì không. Nỗi buồn cuả chú cũng là nỗi buồn chung cuả Kim và các bạn chú ạ! Gởi Hư Vô Hư ơ! Hư làm chị phải hát bài" Ướt mi rồi" Những tập thơ"Truyện chúng mình" cuả thi sĩ Nhất Tuấn, chị em Kim có cũng là do anh trai cuả Kim mua cho , trong những lần về phép hiếm hoi. Anh may mắn hơn anh cuả Hư là anh còn được trở về dù không còn nguyên vẹn. Cho Kim chia sẻ nỗi buồn này với Hư. Mến nhiều
|
|
|
|
RE: Thơ Nhất Tuấn. - 2/22/2009 10:01:45 PM
|
|
|
cao nguyên
Thành viên đang: offline
Đến từ: Phố Núi
|
Anh Nhất Tuấn kính mến, CN tuy không cùng thời với anh ( vì khi anh làm Quản Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội, CN mới nhập cuộc vào hành trình giữ nước), nhưng mà cùng đời với những buồn vui của lính và những khắc khoải một quãng đời lưu vong của những người lình. Nhìn về Quê Hương và Tổ Quốc với tấm lòng những đứa con của Mẹ Việt Nam. Từ lúc đọc thơ anh và đến hôm nay còn đọc thơ anh đã gần nửa thế kỷ. Điều lý thú là đọc được những tâm tình do chính anh gởi nơi Phố Xưa. Thật là một điều không dễ có cho một đời người, cảm nhận và thấu hiểu một giai đoạn lịch sử qua dòng thơ anh. Cám ơn anh với những ân tình của một đời người - một giòng thi sử Việt Nam. Nhân đây, cũng cám ơn anh Hồ Đình Vũ, em Hư Vô... đã phục hồi giòng thơ Nhất Tuấn trên Phố xưa. Kính chúc anh Thân Tâm An Lạc. Trân trọng, Cao Nguyên.
|
|
|
|
Bài Mới |
Không có Bài Mới |
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) |
Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới) |
Khóa (có bài mới) |
Khóa (không bài mới) |
|
Đăng Đề Mục Mới
Trả Lời
Trưng Cầu
Ý Kiến của Bạn
Xóa bài của mình
Xóa đề mục của mình
Đánh Giá Bài Viết
|
|
Login|
khanhly.net|
Diễn Đàn Chính|
Bài hôm nay|
Bài mới|
Góc riêng|
Thư riêng|
Các thành viên|
Tìm kiếm|
Log Out
0.234
|