< Login:: khanhly.net:: Góc riêng:: Thư riêng:: Ghi danh:: Các thành viên:: Tìm kiếm:: Log Out>

RE: Nhất Tuấn - Hoa Học Trò

 
Tham gia dưới tên: Guest
Cùng đọc bài với bạn: không
  In Ra
Diễn Đàn Chính >> [Âm nhạc, Văn học-Nghệ thuật] >> Thơ >> RE: Nhất Tuấn - Hoa Học Trò Trang: <<   < phần trước  7 8 [9] 10 11   phần sau >   >>
Tên login
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
RE: Nhất Tuấn - Hoa Học Trò - 7/27/2009 11:52:15 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

Cam on Hu Vo.

Chu da nhan duoc cau hoi cua chau ma chu cu khong biet tra loi cho HuVo Pho Xua hay Hu Vo o Uc Chau? Chu lai moi nhan tiep email chau gui liet ke cho chu biet theo 10 dieu de gia ta(ng tuoi tho..

Vay bay giio chu nt phai tra loi Hu Vo cau hoi.. thich version nao cua Hoa Hoc Tro qua nhung gio.ng ca khac nhau.

Chu dong y voi chau, Ngoc Minh va Duy Quang hat rat hay va cach dien ta cua ho...nhu do cung chinh la.. la...moi tinh hoc tro cua rieng hai nguoi...ma ho muon tam su voi khan thinh gia. Chi Bich Huyen cung thjch version nay cua Ngoc Minh-Duy Quang nhu Hu Vo !! Dac biet chu thich chu "Thoi" khi Ngoc Minh hat len...khac han nhieu ca si khac:

-Thoi!...em chi muon lam nguoi tran gian.

Chu cung thich giong nam tram am , ro~... cua Huynh Thi, ca si con re cua Giao Su To Van Lai (G S To Van Lai Cu Nhan Triet Dai Hoc Su Pham Khóa 1) co gap chu khi co chu nhan loi moi, toi thau chuong trinh ve Lam Phuong, hoi tha'ng 5/2007 o Houston. Chu da yeu cau gap rieng Huynh Thi de noi mot loi cam on. De khi co dip viet chuyen ben le chu se noi tai sao cam on Huynh Thi hom do. Nhung ngay do chu khong ngo duoc rang chinh anh chang dep trai lich su nay lai la nguoi da hat Hoa Hoc Tro cua Anh Bang-nhat tuan.

Toi khi nho Ho Vu posted len moi...ro a`... ra the va hieu them...vi sao Cong Chua To Ngoc Thuy lai chon nguoi nay de...nang khan sua... vi'.

Co le phai nan ni Ho Vu cho them vai bai ca HHT ma Hoang Lang pho nhac de nghe hat cho dda~ vi co hai cau chot.

Bay gio con nho hay khong?
Den nguoi em nhan..lam chong? Ma thoi.


Phai nghe Thay Giao Loc viet ve hai chu "ma thoi" nay moi lot ta het duoc tam long tho cua nhat tuan.

Hu Vo ,Ho Vu oi:

Nho hai chau cung nhu Tieu muoi, Mai Anh, Phan Rang, Thanh Thu Duc...co quen voi ca si tai tu, chuyen nghiep nao, thu hat bai tho cua chu vua moi pho nhac hom nay, 27/7/2009, do Nhac Si Minh Chau o Paris gui qua.
Cung hon 1/2 nam roi. Do Hu Vo va Ho Vu biet Minh Chau la ai?

ntuan

< Được sửa bởi: htp76 lúc 7/28/2009 2:21:55 AM >

(trả lời với: Hu Vo)
Bài thứ: 161
RE: Nhất Tuấn - Trung Đội Cũ - 7/30/2009 3:12:53 AM   
siliconband

 

Thành viên đang: offline





Tiếng hát Kyra


< Được sửa bởi: siliconband lúc 7/31/2009 5:48:03 AM >

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 162
RE: Truyện Chúng Mình - Nhất Tuấn - 7/31/2009 1:18:44 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

Co mot so than huu hoi them ve giao su Bich Huyen...
Ban Dieu Hanh Pho Xua da danh cho ntuan Mot Goc Pho tu 1/1/2009 toi nay va vi thay bai cua Le Huu hay qua...nen xin post vao Goc Pho cua NTuan , de cac ban yeu Tho Nhac cung doc.

Hinh nhu ben Canada, mot nha tho dang lam nhung PPS ve cac van nghe si...va co mot PPS cung de cap toi nha giao Bich Huyen. Chac la vui lam va chung ta o dip biet nu sinh Bich Huyen tu ngay con cong tac voi nhat bao Ngon Luan o VN, thap nien (19)60. Va may ra lai co hinh cua Giao Su Bivch Huyen, Ba Ngoai Bich Huyen hien nay ...thi cang them vui. Xin cam on Pho Xua mot lan nua va moi cac ban cung doc bai duoi day :


(B) Bích Huyền, những mùa xuân “chẳng sao quên(”B)





Lê Hữu thực hiện

LTS: Số Xuân Phụ Nữ Diễn Ðàn Kỷ Sửu hân hạnh giới thiệu cùng quý độc giả một khuôn mặt phụ nữ quen thuộc tại quận Cam, đó là nhà văn đồng thời cũng là nhà làm truyền thông Bích Huyền, qua cuộc phỏng vấn của văn hữu Lê Hữu.
Ðây là một cuộc trao đổi khá công phu, không những làm nổi bật diện mạo của một nhà truyền thông nữ năng động trong cuộc sống tị nạn của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, mà còn gợi nhớ lại “những mùa xuân xưa” đầy thơ mộng của Sài Gòn ngày cũ. Ðó là những kỷ niệm đẹp của một thời mà cũng là những dấu vết tài liệu hiếm hoi cần được ghi lại từ hồi ức ngày một có khuynh hướng phai đi của thế hệ di dân thứ nhất.

Lê Hữu: Đầu năm, “xin thân ái kính chào tái ngộ” chị Bích Huyền!… Phải chào hỏi cách ấy để chị biết rằng tôi cũng là một trong những thính giả trung thành với các chương trình “Tâm tình với nhau”, “Văn học nghệ thuật, “Một thoáng hương xưa”… của chị đấy nhé.

Bích Huyền: (cười…) Bích Huyền cũng… “thân ái kính chào tái ngộ” anh Lê Hữu. Rất vui được biết là trong số thính giả gắn bó với các chương trình ấy có cả anh nữa.

LH: Không riêng gì tôi đâu, chị Bích Huyền à. Nhiều lắm, kể ra không hết, bao nhiêu là thính giả già trẻ lớn bé ở trong nước, ngoài nước, yêu các chương trình phát thanh của chị và yêu cả người phụ trách chương trình. Và… cũng chính vì thế mới có cuộc gặp gỡ đầu năm với chị Bích Huyền hôm nay.

Bích Huyền: Cám ơn anh, ra là vậy, nhưng mà anh không định… phỏng vấn Bích Huyền đấy chứ?

LH: Chắc chắn là không thưa chị. Tôi không có ý định tiếp tục công việc mà chị đã… từng làm nhiều năm trước đây. Hơn nữa, phỏng vấn thì đâu có “nói” được gì nhiều, đâu có phơi trải được những tâm sự, những nỗi niềm… Ta có thể mượn tạm cái tên một trong những chương trình của chị, “Tâm tình với nhau”, tôi thích cái tên ấy. Đối tượng thì vẫn là thính giả và độc giả của chị, lâu nay vẫn yêu mến, vẫn ngưỡng mộ những việc làm của chị, và vẫn muốn được nghe chị tâm tình… ngày xuân. Chị Bích Huyền sẽ không từ chối chứ?

Bích Huyền: Rất hân hạnh được trò chuyện với anh Lê Hữu, tác giả nhiều bài biên khảo về âm nhạc rất công phu mà Bích Huyền từng được đọc qua, từng yêu thích và từng biên tập thành nhiều chương trình “Câu chuyện thơ, nhạc” trên đài VOA mà không biết tác giả ở đâu để mà xin phép, đành gửi đến anh lời cám ơn… muộn màng vậy. Thưa anh, Bích Huyền rất trân trọng những tình cảm của quý thính giả, độc giả dành cho mình nên làm sao mà có thể từ chối được những phút “tâm tình” như anh đề nghị. Chỉ có điều là, bắt mọi người phải nghe mình nói về “cái tôi” và những chuyện bình thường, nhỏ bé của đời mình thì có vẻ gì… làm sao ấy.

LH: Xin chị cứ yên tâm là chắc chắn rất nhiều người muốn được nghe “những chuyện bình thường, nhỏ bé” ấy của chị… Nhưng mà trước hết, phải xin chị cho biết qua về những cái jobs của chị hiện nay trong lãnh vực truyền thông và các lãnh vực khác, gồm cả những công việc vẫn được gọi là “vác ngà voi”?

Bích Huyền: Trước đây một năm thì kể là khá bận rộn vì phải dành nhiều thì giờ biên soạn các chương trình cho bốn đài phát thanh mà Bích Huyền cộng tác:
* Quốc tế: Đài “Tiếng Nói Hoa Kỳ” (VOA), gồm các chương trình:
- “Tin tức sinh hoạt cộng đồng”, ở quận Cam là chính, và một số thành phố ở các tiểu bang khác khi có lời mời.
- “Phỏng vấn nhân vật”, gồm mọi đối tượng, mọi lãnh vực (văn hóa, chính trị, xã hội…).
- “Câu chuyện thơ nhạc” (đôi lúc được sự cộng tác của các “khách mời”, như các cô Minh Phượng, Hiền Vy, Quỳnh Lưu, Đan Thanh, Uyển Diễm…, các anh Nguyễn Đình Toàn, Ngô Mạnh Thu, Trần Xuân Dũng, Miên Trường…).
* Địa phương: Đài “Radio Bolsa” và đài FM 974 ở Melbourne (Úc châu), gồm các chương trình mang tính văn học nghệ thuật. Riêng Radio Bolsa có thêm chương trình “Tâm tình với nhau”, thực hiện chung với Mai Phương (trước đây khoảng 10 năm thực hiện chung với Quỳnh Lưu), với ước mong được chia sẻ cùng thính giả những vui buồn và kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.
* Phát về Việt Nam: Đài “Chân Trời Mới”, chương trình “Một thoáng hương xưa”.
Hiện thời, để có thể dành nhiều thì giờ hơn với các con cháu, Bích Huyền chỉ còn nhận của các đài một ít chương trình được thính giả yêu mến, khoảng 1/3 khối lượng công việc so với trước đây.
Riêng với đài VOA, ngoài chương trình “Câu chuyện thơ nhạc” hàng tuần, Bích Huyền chỉ nhận thực hiện các bản tin, phóng sự đặc biệt (như vụ Nguyễn Minh Triết đến quận Cam…).
Những công việc gọi là “vác ngà voi” như anh nói, kể ra lại dài dòng, như: Điều hành thường nhật Diễn đàn Nhóm Trưng Vương Và Thân Hữu trên “Phố Rùm” của Việt Báo Online; Thành viên trong Câu lạc bộ Hùng Sử Việt. (Sẵn đây xin được “khoe” với anh là chúng tôi đã phát hành được một Tuyển tập Thi Nhạc Vịnh Sử Việt Nam, và hiện nay đang cùng với Trung Tâm Việt Ngữ biên soạn sách về Luân Lý Đạo Đức, Ngôn Ngữ. Được biết anh Lê Hữu từng điều hành một trường Việt Ngữ trong nhiều năm, sẽ gửi sách biếu đến thư viện của trường anh khi biên soạn xong)… Xin lỗi, kể tiếp anh nhé: Cộng tác với khóa Tu Nghiệp Mùa Hè do các Trung Tâm Việt Ngữ Nam Cali tổ chức (trao đổi chút kinh nghiệm về giảng dạy có được trong thời gian làm việc trong ngành sư phạm trước 1975); Giám khảo các cuộc thi viết “Chuyện người tù cải tạo” và “Chuyện người vợ tù cải tạo”; Giảng viên Khóa Báo Chí do anh Lê Đình Điểu sáng lập (sau này là anh Đỗ Ngọc Yến phụ trách)…

LH: Chị vẫn chưa kể hết mà… Phải thán phục chị Bích Huyền, chị giống như một diễn viên xuất sắc trong nhiều vai diễn khác nhau. Cái khó là không biết phải gọi chị bằng danh hiệu gì cho thật chính xác bây giờ? Nhà văn, nhà báo, nhà truyền thông, nhà hoạt động văn hóa/giáo dục/cộng đồng…?

Bích Huyền: Những “ngôi nhà” ấy được anh và nhiều vị trong cộng đồng thương mến mà cấp phát cho, thế nhưng Bích Huyền vừa không dám nhận lại vừa… tủi thân. Nếu anh biết rằng, số Bích Huyền là số không nhà không cửa, có nghĩa là mãi đến nay, đã hơn nửa đời người, vẫn chưa có nổi một căn nhà nào thực sự của riêng mình mà chỉ “ăn nhờ ở đậu” nhà của các con…

LH: Tội nghiệp chị Bích Huyền, thế nhưng…, ngôi nhà đẹp không chắc đã mang đến hạnh phúc cho người chủ của nó. Theo tôi thì bất cứ “nơi ăn chốn ở” nào cho ta cảm giác êm ấm và luôn muốn tìm về thì nơi ấy là “mái nhà” của mình, phải không chị?... Bây giờ ta hãy nói về “những mùa xuân… chẳng sao quên” chị Bích Huyền nhé. Bắt đầu từ mùa xuân thứ nhất, xin chị kể cho nghe kỷ niệm nào chị còn giữ được về những “ngày xưa còn bé”?

“Cuốn sách đời” và những mùa xuân phai



“Huyền Xưa”,
tranh Mùi Quý Bồng, 1965

Bích Huyền: Ngày xưa…, Bích Huyền nhớ nhất là được cùng gia đình đi thăm bà ngoại vào dịp Tết, gặp gỡ nô đùa cùng anh chị em, họ hàng và nhận được tiền mừng tuổi. Cũng không bao giờ quên được không khí gia đình thật đầm ấm vào mỗi chiều tối khi các anh chị em quây quần bên nhau dùng bữa cơm chiều, bên người cha vô cùng nghiêm khắc, bên người mẹ hiền hậu dịu dàng. Ba Bích Huyền là giáo chức (Trưởng Ty Giáo Dục huyện Gia Lâm, Bắc Ninh) nên đồng lương cố định. Để tiết kiệm ngân quỹ, nhiều khi Mẹ phải cắt hai vạt áo dài sửa thành áo sơ-mi cho các em Bích Huyền mặc (lúc các em còn nhỏ cơ, lớn một chút là biết đòi Mẹ dẫn đi may áo).
Gia đình thì ở Bắc Ninh, ông anh lớn và người chị kế Bích Huyền lại trọ học ở Hà Nội. Mỗi cuối tháng, Ba lên Hà Nội để lãnh lương và thường cho Bích Huyền đi theo. Được anh chị dẫn đi dạo phố hàng Ngang, hàng Đào, ngẩn ngơ với những hình ảnh “khăn san bay lả lơi trên vai… ai” và chỉ mong mình chóng lớn. Thế nhưng khi được các bạn của ông anh chở ra Bờ Hồ bằng xe đạp, được thưởng thức đĩa gỏi bò khô hấp dẫn (chỉ có vài lát thịt mỏng… gió có thể thổi bay nhưng vẫn cứ xuýt xoa với nước tương dấm tỏi ớt) thì lại mong mình cứ… nhỏ bé mãi (cười…).

LH: Khúc phim ngày xửa ngày xưa của chị Bích Huyền đẹp như là chuyện cổ tích vậy. “Ngày xưa”…, hai tiếng ấy nghe sao êm đềm quá, phải không chị Bích Huyền? Chắc chắn là “khán giả” còn muốn được chị cho xem tiếp khúc phim về tuổi đôi tám đôi mươi, vẫn được gọi là tuổi thanh xuân, tuổi hoa bướm, tuổi mộng mơ, tuổi học trò…, tuổi của “những năm tháng tươi đẹp nhất của một đời người”?

Bích Huyền: Vâng, có lẽ ai cũng có một thời tươi đẹp nhất. Với Bích Huyền, đấy là những năm tháng của thời học sinh Trưng Vương. Tại sân cỏ cạnh nhà để xe, khi còn học nhờ trường Gia Long, bạn bè tụ lại đùa giỡn, chia nhau từng miếng me chua muối ớt, và bao giờ cũng là những học sinh cuối cùng rời khỏi trường. Khi có trường riêng, Trưng Vương tọa lạc trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngàn năm lá me bay… Ôi chao hạnh phúc! Những giờ tan trường sớm, rủ nhau chui qua… lỗ chó để vào Sở Thú (cười…), vì làm gì có đủ tiền mà mua vé vào cửa! Nếu có thì cũng “đóng thuế” cho chiếc xe bán đậu đỏ bánh lọt mất rồi. Giờ tan học xúm nhau vòng trong vòng ngoài để chờ một ly chè mát lạnh ngọt ngào. “Nhạt quá, xin chút đường. Ngọt quá xin chút đá…”, cứ thế mà chọc phá ông bán hàng…



“Ngày em 20 tuổi”, Bích Huyền (bên phải)
và Ngọc Túy, cô bạn đất Thần Kinh

Em đã mười ba hay mười lăm
mắt xanh, tóc biếc, má trăng rằm
Tay nõn em mời âm thanh đến
hay môi em hờn quên tháng năm… (Y Dịch)

Rồi khi lên đệ nhị cấp, bắt đầu viết bích báo, đặc san, trao đổi với Chu Văn An. Nào văn nghệ liên trường, nào trao nhau những bài thơ, những lá thư làm quen từ “trường bạn”, nào viết cho trang Học Sinh và Phụ Nữ của nhật báo Ngôn Luận. Bích Huyền và các bạn thân bắt đầu thích màu xanh, màu hồng nhạt của giấy pelure mỏng, chép thơ, hay nắn nót từng trang nhật ký, ghép vào những bông hoa ép khô mà mỗi tên hoa là một ý nghĩa. Tất cả, là… mộng tưởng tuyệt vời!
Bích Huyền nhớ, năm sinh nhật 18 tuổi, Mẹ cho phép mời một số bạn thân đến nhà. Bà nấu bún thang và món ốc hấp lá gừng. Anh Lê Hữu ạ, cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi hương vị những món ăn Mẹ hay làm…Và ngày nay tôi lại nấu những món ấy cho các con cháu mình ăn.
Có một lúc nào đó trong cuộc đời, như lúc này đây, Bích Huyền muốn được đi lại từ đầu. Cảm ơn anh Lê Hữu cho tôi sống lại những phút êm đềm của “những ngày xưa thân ái”. Một quãng thời gian đầy hoa, đầy mộng, có tình yêu chan chứa của gia đình, có trường lớp bạn bè, có tuổi học trò và một thời con gái... Mỗi lần hồi tưởng, ai mà không thấy lòng rung động, có phải như thế không anh?

LH: Câu thơ chị đọc nghe thật hay, “mắt xanh, tóc biếc, má trăng rằm…” Kỷ niệm “một thời áo trắng” ấy đúng là “mộng tưởng tuyệt vời” như chị nói... Chị nhắc đến nhật báo Ngôn Luận làm tôi bỗng nhớ một “Bích Huyền người mẫu” của họa sĩ Văn Hiếu trong tờ báo ấy. Mãi đến nay nhiều người vẫn chưa quên được “chị Huyền” trong truyện tranh nhiều kỳ “Bé Ngôn, bé Luận” của tờ “Phụ trương Ngôn Luận học sinh-gia đình”. Điều thú vị, ít ai biết được rằng “chị Huyền” trẻ đẹp, duyên dáng ở bên cạnh “bé Ngôn, bé Luận”–các nhân vật tưởng tượng của họa sĩ–lại chính là Bích Huyền, nhân vật hoàn toàn có thật ở ngoài đời, với vóc dáng và tính cách rất giống với người trong tranh. Xin chị Bích Huyền cho biết, do sự tình cờ nào của “lịch sử”, chị đã “hóa thân” thành “chị Huyền” trong truyện tranh hấp dẫn ấy?

Bích Huyền: Câu hỏi của anh mở ra một trời “hoa bướm ngày xưa”,… và tôi lại phải dông dài về Trưng Vương của năm 1960, của những ngày vui có trường có lớp, có bạn có bè. Trong số các cô bạn thân nhất của tôi thuở ấy có Hồng Thủy. Hai đứa ngồi cạnh nhau, lại hợp tính nhau, cùng yêu văn thơ, cùng thích múa hát. Thủy và tôi thường trao đổi với nhau về những truyện ngắn, những bài thơ nhận được từ các ông bên Chu Văn An. Hai đứa không dấu nhau điều gì, trừ một chuyện là chuyện viết bài gửi cho “Phụ trương Ngôn Luận học sinh-gia đình” (không ngờ anh Lê Hữu còn nhớ được cái tên ấy). Chúng tôi dấu nhau cũng chỉ vì sợ “quê” là không được đăng mà thôi. Không ngờ là bài của hai đứa đều được “chị” Kiều Diễm Hồng–người phụ trách trang báo ấy–chọn đăng, và khi mang tờ báo vào khoe trong lớp thì mới biết nhỏ bạn của mình là Mộng Huyền, Bích Huyền. Một sự trùng hợp thú vị là hai đứa đều chọn tên… Huyền.
Tuổi học trò ngày ấy rất ngây thơ, chưa từng đợi chờ mà cứ ngỡ đợi chờ, chưa từng thương nhớ mà cứ như thương nhớ. Những câu chuyện tình dở dang, sướt mướt mà hai đứa viết ra đều là “sản phẩm của trí tưởng tượng”, vậy mà được “chị” Kiều Diễm Hồng chọn đăng và còn chuyển lại cho tôi những lá thư của độc giả học sinh (có người còn giữ liên lạc đến tận giờ). Một ít truyện trong số ấy tôi còn mang theo được sang đây.
Sau đó, Mộng Huyền và Bích Huyền thành lập “Nhóm Huyền”, kéo theo một lô “Huyền”, trong đó có Hương Huyền là… anh Nguyễn Đức Nam, hiện là Chủ nhiệm tạp chí Kỷ Nguyên ở Hoa Thịnh Đốn.
Một hôm đi học về, tôi nhận được lá thư của “chị” Kiều Diễm Hồng. “Chị” nói tòa soạn muốn đăng hình Bích Huyền vào bìa số báo Xuân Ngôn Luận. Tôi tìm những tấm ảnh thật đẹp gửi đi, nhưng “chị” nói rằng sẽ có nhà nhiếp ảnh của tòa báo chụp, và nhắc tôi thu xếp một ngày. Thế nhưng làm sao mà tôi dám đi một mình, và lại còn phải xin phép bố mẹ nữa chứ. Ông bố tôi rất khó tính nên tôi chẳng dám hé môi. “Chị” Kiều Diễm Hồng đành phải “thông cảm” vậy, và chị xin được giữ những tấm ảnh tôi gửi. Và kể từ đó, trên nhật báo Ngôn Luận, hình ảnh Bích Huyền qua nét vẽ của họa sĩ Văn Hiếu bắt đầu xuất hiện. Truyện tranh “Chị Huyền và Bé Ngôn, Bé Luận” cũng ra đời từ đó...

LH: Cám ơn chị đã tiết lộ “bí mật” ít người biết. Có ai ngờ được rằng “chị Huyền”, nhân vật tưởng đã đi vào… huyền thoại, nay lại bất ngờ hiện ra bằng xương bằng thịt trước mặt tôi đây như là chuyện thần tiên vậy. Tôi nhớ, “chị Huyền” trong truyện tranh ấy thật dễ thương, thật dịu dàng, có mái tóc “huyền” óng ả, có đôi mắt “huyền” đen láy, thường đóng vai “cố vấn” và “giải đáp thắc mắc” cho mấy cậu em nghịch ngợm và “hay hỏi tại sao”. Tôi cũng nhớ “chị Huyền” còn có một “bạn trai” là “anh Hiếu Kỳ”, khá đẹp trai và có nhiều sáng kiến “độc đáo”, dẫn đến những trò quậy phá của các chú bé trong truyện. Tôi cũng “hiếu kỳ” muốn biết “anh Hiếu Kỳ” là ai vậy? Chị Bích Huyền có thể nói thêm chút chút về kỷ niệm của những ngày đầu “viết văn, làm báo” ấy?

Bích Huyền: Vâng, anh Lê Hữu nhắc tôi mới nhớ ra. Theo sự “tiết lộ” của ông Thái Linh (trong Ban biên tập nhật báo Ngôn Luận) ở Virginia, trong lá thư tôi nhận được của ông năm 1995 (hiện tôi vẫn còn cất giữ), thì ông cho biết “chị” Kiều Diễm Hồng chính là… ông, và ông cũng là “cha đẻ” của truyện tranh “Chị Huyền và Bé Ngôn, Bé Luận”, phỏng theo truyện “Tintin” trong một tờ báo Pháp ngữ. Họa sĩ Văn Hiếu “vẽ”, ông Thái Linh “viết” lời đối thoại cho các nhân vật trong truyện. Sau này còn có thêm “chị Mai” (là… ca sĩ Khánh Ly về sau này) và “anh Hiếu Kỳ”, một nhà báo. Cũng theo lời ông Thái Linh, “phóng viên Hồng Dương đi đâu cũng tự nhận mình là ‘anh Hiếu Kỳ’ ”… Phải nói là truyện tranh đó thu hút rất nhiều cô cậu học sinh miền Nam thuở ấy.
Sau này, khi anh chị Phạm Cao Củng-Huyền Nga chính thức phụ trách tờ “Phụ trương Ngôn Luận”, anh chị thường tổ chức những buổi họp mặt Tân Niên tại Câu lạc bộ Báo Chí ở góc đường Lê Lợi-Nguyễn Huệ, có đến hàng trăm học sinh các trường trung học ở Saigon về tham dự. Phần tôi, nhật báo Ngôn Luận, với trang Học Sinh và Phụ Nữ ấy, đã mở ra cho tôi cánh cửa bước vào “thế giới văn chương” thuở học trò qua các truyện ngắn đầu tay viết cho mục “Mỗi Ngày Một Truyện” của báo ấy. Tôi nhớ, tiền nhuận bút ngày ấy là 150$, đủ để may một chiếc áo dài bằng tơ nội hóa.



“Chị Mai” (Khánh Ly)
và “chị Huyền” (Bích Huyền), 1965

LH: Như vậy là “chị Huyền” đã từ truyện tranh ấy bước ra để “đi nhẹ vào đời”, làm một cô nữ sinh Trưng Vương mơ mộng, làm một giáo sư dạy Việt văn, rồi làm vợ, làm mẹ, từng có những năm sống hạnh phúc, từng trải qua bao nỗi nhục nhằn và những mất mát, chia lìa khi mây đen phủ trùm lên đất nước, lên số phận cả một dân tộc, cho đến ngày đặt chân lên đất nước tự do này… “Cuốn sách đời” của chị Bích Huyền thật ly kỳ và hấp dẫn như một trường thiên tiểu thuyết, có đến cả mấy tập. Vừa rồi là “Tập 1”, tạm gọi là “Một Thoáng Hương Xưa”, như tên một chương trình của chị. Xin chị Bích Huyền cho nghe tiếp “Tập 2”?... Chị sẽ không ngại kể về mùa xuân nào “có chàng trai trẻ đến nơi này”, và mùa xuân nào… nên vợ thành chồng?

Bích Huyền: Tôi gặp nhà tôi trong đám cưới của Hương Kiều Loan, người bạn Trưng Vương trong “Nhóm Huyền” thuở nào. Tuy ngồi khác bàn nhưng anh ấy để ý đến tôi và nhờ Loan giới thiệu. Rồi tôi cũng quên đi, với lại tôi vừa chia tay một cuộc tình, trong lòng còn nguyên một vết thương. Liền sau đó là biến nạn Tết Mậu Thân, Saigon khi đó vô cùng hỗn loạn, chạy ngược chạy xuôi không biết nơi đâu là yên. Tôi gặp lại anh ấy trong bộ quân phục tác chiến khi tôi theo đoàn Thanh Niên Thiện Chí cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Rồi qua Hương Kiều Loan, tôi bắt đầu để ý đến những săn sóc, chiều chuộng của anh. Thế rồi chúng tôi yêu nhau và … nên vợ thành chồng, và từng có những tháng ngày rất đẹp trên Đà Lạt, nơi anh giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị .



“Lối cũ chẳng sao quên” (Đalat, 1974)

LH: “Lối Cũ Chẳng Sao Quên”, chắc khó mà tìm được cái tên nào thích hợp hơn để đặt cho “Tập 2” cuốn sách đời của chị Bích Huyền. Bây giờ ta chuyển sang “Tập 3” chị Bích Huyền nhé, là “tập” mà chương đầu nói về cơn bão lịch sử năm 75. Chị sẽ kể về mùa xuân nào đây? Và “Tập 3” này cũng phải có một cái tên chứ?

Bích Huyền: Thưa anh, làm gì có “mùa xuân” nào trong những năm mà… nói như anh, “mây đen đã phủ trùm lên đất nước, lên số phận cả một dân tộc”. Tuy nhiên, nếu hiểu “mùa xuân… chẳng sao quên” theo một nghĩa khác thì chắc chắn đó phải là mùa xuân năm 75 ấy. Nhà tôi cùng Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, Chỉ Huy Trưởng trường Đại Học CTCT, Đại tá Đỗ Văn Sáu cùng các vị sĩ quan và sinh viên di tản khỏi Đà Lạt. Về tới được Saigon là chúng tôi phải lo tìm nơi tạm cư cho sinh viên ở đường Phan Đình Phùng. Mặc dù vẫn có phương tiện để rời khỏi đất nước trong những ngày ấy nhưng chúng tôi không thể nào bỏ mặc sinh viên của mình được, cuối cùng phải… ở lại vậy.
Anh hỏi Bích Huyền sẽ đặt tên gì cho “Tập 3” ấy? Còn tên gì khác hơn là… “Cơn Hồng Thủy” thưa anh. Cơn bão lịch sử ấy đã vùi dập phũ phàng, đã nhận chìm và cuốn phăng đi tất cả, cuốn phăng đi biết bao nhiêu là số phận, trong đó có cả anh và Bích Huyền nữa, những cọng rơm thật nhỏ bé…

LH: “Tập” này có vẻ… kém vui, thôi ta chuyển sang “Tập 4” đi chị Bích Huyền nhé. Có thể mượn đỡ cái tên “Chân Trời Mới” của một đài phát thanh chị đang cộng tác để đặt cho “tập” này. Mùa xuân nào là… “chẳng sao quên” của chị Bích Huyền trên quê hương thứ hai này?

Bích Huyền: Mùa xuân năm 1990 thưa anh, là mùa xuân thứ nhất của Bích Huyền trên đất nước Hoa Kỳ. Khi ấy Bích Huyền đang cộng tác với nhật báo Người Việt và có viết bài phóng sự “Mùa Xuân Của HO”. Chưa bao giờ có một buổi họp mặt đông đảo và cảm động như thế ở Quận Cam. Chúng tôi, những gia đình cựu tù nhân chính trị, đã có một mùa xuân thật là đẹp trên xứ sở này, khi mà nỗi ước mơ được định cư trên một đất nước tự do đã thành tựu.

Những chương sách mới, những giấc mộng đời

LH: Các chương trình phát thanh của chị Bích Huyền rất được thính giả yêu thích không chỉ vì nội dung hấp dẫn mà còn vì giọng nói thật quyến rũ, giọng đọc thật diễn cảm của chị qua cách phả hơi thở đầy cảm xúc vào từng lời, từng chữ… Đặc biệt là câu chào tạm biệt “Bích Huyền xin lưu luyến chia tay” ở cuối chương trình, nghe rất tình cảm, rất “lưu luyến” và rất… Bích Huyền. Lại còn lời chúc “Ngủ ngon mộng đẹp đêm nay” nữa chứ, nghe thật… chết người. Câu chào ấy và lời chúc ấy mang dấu ấn đặc biệt của Bích Huyền, không ai… làm “giả” được. Thính giả của chị mang theo giọng nói quyến rũ như “thì thầm bên gối” ấy vào trong giấc ngủ êm đềm… Chị yêu thính giả của mình và thính giả của chị cũng yêu chị. Tôi nhớ từng nghe các đồng nghiệp của chị nêu nhận xét là trước giờ chưa có ai tạo được mối “giao lưu tình cảm” thật gắn bó, thật gần gũi giữa thính giả và người phụ trách chương trình như là chị. Chị Bích Huyền có “bí quyết” gì và có thể tiết lộ bí quyết ấy chăng?

Bích Huyền: Làm gì có “bí quyết” nào thưa anh (cười…). Tôi chỉ làm công việc của mình bằng tất cả tấm lòng. Có thể là nội dung các chương trình ấy phù hợp với tâm tư tình cảm của thính giả chăng(?). Về lời chúc “Ngủ ngon mộng đẹp đêm nay, các bạn nhé” thì… vì lẽ các chương trình của Bích Huyền đều phát vào buổi tối, trước giờ… đi ngủ, nên chắc là không có lời chúc nào thích hợp và ý nghĩa hơn phải không anh? Riêng câu chào “Bích Huyền xin lưu luyến chia tay” có từ lúc nào tôi cũng… quên mất. Thường thì ở cuối mỗi chương trình chúng tôi chỉ chào tạm biệt thính giả, riêng chương trình hôm ấy–đài Văn Nghệ Truyền Thanh, Quỳnh Lưu và tôi thực hiện–hình như còn vài điều chưa kịp nói hết thì đã… hết giờ, trong lúc chúng tôi vẫn còn “lưu luyến”… Bỗng dưng, tôi thốt ra câu ấy, “Bích Huyền xin lưu luyến chia tay”. Khi rời đài, Quỳnh Lưu nói, “Em thích câu chào tạm biệt tối nay của cô quá!” và thế là kể từ đó tôi… dùng luôn câu chào ấy trong mọi chương trình.
Về lời chào này, tôi có một kỷ niệm với một số bạn trẻ mà tôi gặp gỡ khi đi làm phóng sự về Đại Hội Thanh Niên-Sinh Viên Việt Nam kỳ thứ 4 tại San Diego. Trong lúc tôi đang đứng cùng với Nam Dao, Phan Văn Hưng, Trúc Hồ…, các em ríu rít đến xin chụp ảnh. Khi biết tôi là Bích Huyền, em nào cũng muốn chụp chung vì “lâu nay chỉ nghe tiếng nói mà chưa biết mặt”. Tôi cho là các em chỉ nói thế cho vui hay vì lịch sự thế thôi, nhưng một em bỗng nói, “Em thích một câu nói của cô, ‘Bích Huyền xin lưu luyến chia tay’, câu ấy có vẻ gì… lả lướt lắm!” Nghe vậy tôi cảm động lắm anh Lê Hữu à, vì biết được rằng chương trình của mình cũng được cả giới trẻ yêu thích.

LH: Xin chúc mừng chị Bích Huyền. Tôi cũng tin là các em thực sự yêu thích các chương trình của chị, chứ không phải chỉ yêu thích mỗi câu “Bích Huyền xin lưu luyến chia tay”, và cũng không phải chỉ đón nghe chương trình của chị để được nghe chị nói câu ấy, nghe được rồi là happy, và… tắt máy.

Bích Huyền: (cười…) Cho dù các em chỉ yêu câu ấy thôi thì cũng đủ làm tôi vui rồi anh Lê Hữu à. Trước đây, khi chưa có có internet, tôi chỉ nhận được thư của thính giả ở trong nước do anh Nguyễn Văn, Trưởng Ban Việt Ngữ đài VOA chuyển. Trong số các thư ấy, có người hỏi tôi bao nhiêu tuổi, có gia đình chưa(?), vì họ tưởng tôi còn… trẻ lắm. Có người viết rằng “nghe giọng nói thì khoảng 25 đến 30 tuổi là cùng, thế nhưng về kiến thức thì lại như người 50 tuổi trở lên”...

LH: Vâng, đúng là giọng Bích Huyền nghe rất “trẻ” và rất… khó đoán tuổi. Giọng nói ấy là giọng mùa xuân đấy chị Bích Huyền à. Mùa xuân thì… không có tuổi, và mỗi lần xuân đến là mỗi lần con người lại cảm thấy mình trẻ ra. Chắc là chị Bích Huyền phải nhận được nhiều “phản hồi” về các chương trình phát thanh của chị, nhất là những tình cảm quý mến của thính giả trong và ngoài nước dành cho chị. Kể chút chút cho vui, chị Bích Huyền?

Bích Huyền: Kỷ niệm thì nhiều lắm, kể anh nghe thì... cả ngày chưa hết chuyện. Thính giả chia sẻ với tôi từ chén canh… hoa thiên lý đầu mùa nấu với tôm tươi, đến những CD nhạc tại địa phương , bao cốm sấy Hà Nội, gói khô cá sặt miền Tây. Và gần đây nhất, trong chuyến du ngoạn Âu châu, tôi được thính giả đón về nhà và dẫn đi khắp Paris… Hoặc chuyện ở trong nước, tôi được một người quen về thăm nhà ở Saigon kể lại: trong buổi gặp gỡ các bạn học cũ vào tối thứ Sáu, đang lúc chuyện trò vui vẻ, bỗng một người nói, “Mở radio đi, nghe ‘thơ nhạc, thơ nhạc Bích Huyền’”. Thế là mọi người tạm ngưng câu chuyện, chăm chú lắng nghe chương trình “Câu chuyện thơ nhạc”, đến… quên cả người bạn mình từ phương xa mới về. Khi hỏi về Bích Huyền và nghe người quen tôi gọi tôi là “chị Bích Huyền”, mọi người ngạc nhiên vì cứ tưởng Bích Huyền còn trẻ lắm.



Bích Huyền Uyển Diễm trong phòng thu âm Bích Huyền và Mai Phương, “Radio Bolsa”

Lại xin được kể thêm một chuyện đáng nhớ khoảng năm 1995, khi mà truyền thanh truyền hình chưa phổ biến rộng khắp như bây giờ. Một lần trên chuyến bay đi DC, tôi ngồi cạnh một thanh niên trẻ khoảng 20 tuổi. Trong lúc nói chuyện, biết tôi làm trong ngành truyền thanh, em hỏi, “Chị có quen Bích Huyền không?” Khi biết tôi là Bích Huyền, em đó mừng lắm. Em nói, “Mẹ em sang Cali chơi, thích nghe đài Việt Nam và cứ mong đến tối thứ Bảy để đón nghe ‘Tâm Tình Với Nhau’ với Bích Huyền-Quỳnh Lưu. Khi về lại DC, Mẹ bắt em phải thu tape gửi sang. Em cũng thích nghe lắm, nhưng thứ Bảy thì em đâu có ở nhà nên phải nhờ cô em thu dùm.” Kể xong, em lấy từ trong xách tay một túi đựng nhiều cuốn tape thu chương trình “Tâm tình với nhau”, đưa tôi xem. Em nói, “Đây là ‘món quà’ mà em dành cho Mẹ trong mùa lễ Tạ Ơn này.” Tôi lặng người đi vì niềm vui và nỗi xúc động!…

LH: Tôi cũng… lặng người đi vì câu chuyện của chị. Những tình cảm quý mến chị nhận được ấy không chỉ đến từ các chương trình phát thanh chị phụ trách mà còn từ các hoạt động phục vụ cộng đồng của chị, và đặc biệt từ tác phẩm gắn liền với tên chị, “Lối cũ chẳng sao quên”. Chị Bích Huyền có lời gì “tâm tình” với độc giả từng yêu thích cuốn bút ký, tự truyện ấy?

Bích Huyền: Chỉ biết cám ơn và cám ơn thật nhiều quý độc giả đã ủng hộ, đã đọc và chia sẻ với Bích Huyền về một phần đời của Bích Huyền gửi vào những trang sách ấy. Nhưng mà, cuốn sách “Lối cũ…” ấy đã “cũ” rồi anh Lê Hữu à.

LH: Một cuốn sách hay không bao giờ cũ. Cuốn sách mỏng, nhưng nói được rất nhiều, đến mức trở thành một một sử liệu, một tài liệu quý báu. Giá trị của “Lối cũ chẳng sao quên”, nói như giáo sư Phạm Cao Dương, “Không có những tài liệu thuộc loại này, người ta sẽ không thể hiểu được tại sao người Việt lại liều mạng bỏ nước ra đi môt cách liên tục từ sau năm 1975, sau khi hòa bình, độc lập và thống nhất–dù là thống nhất dưới chế độ CS–đã trở lại trên quê hương họ.” Tôi vẫn cho là, người Việt thế hệ hôm nay và ngày mai, và cả người ngoại quốc nữa, cần phải có trên tay cuốn sách ấy để hiểu được và hiểu đúng về cuộc chiến tranh Việt Nam. Trên những trang sách ấy là những sự thật không thể che dấu, là những dối trá bị phơi bày.

Bích Huyền: Cám ơn anh đã nói lên ý đó. Thực sự, khi viết Bích Huyền chỉ viết một cách tự nhiên, có sao thì nói vậy, từ những việc mắt thấy tai nghe tới những cảm xúc đến từ các sự việc ấy.

LH: Vâng, chính vì thế, chính vì điều ấy thưa chị, đã làm cuốn sách ấy thực sự có ý nghĩa và giá trị. Có một cuốn sách “cũ” gấp nhiều lần cuốn sách của chị mà người ta vẫn muốn tìm đọc, chị còn nhớ “Nhật ký Anne Frank” chứ? Cô bé Anne Frank, tác giả cuốn nhật ký ấy, không có ý định tố cáo cái gì cả. Cũng như chị, cô bé ấy cũng chỉ viết ra những việc ghi nhận được và những cảm xúc trong lòng mình. Thế nhưng cuốn sách ấy đã làm rơi lệ biết bao người, đã đánh động lương tri của nhân loại và trở thành bản cáo trạng mạnh mẽ nhất về tội ác, về sự tàn bạo, phi nhân của con người đối với con người. Người đọc không chỉ khóc vì những thảm cảnh của chiến tranh mà còn khóc vì những giấc mơ của cô bé ấy bị dập tắt phũ phàng. Trong cuốn sách của chị cũng thế, cũng có những giấc mơ bị dập tắt một cách phũ phàng… Hỏi thật chị Bích Huyền nhé, chị có biết vì sao “Lối cũ chẳng sao quên” của chị được nhiều người tìm mua, tìm đọc đến như thế?

Bích Huyền: Chắc là do… người đọc thương mến và ủng hộ tác giả, Bích Huyền nghĩ vậy.

LH: Có đúng một phần thưa chị. Theo tôi thì, người đọc cảm thương cho nhân vật chính trong cuốn tự truyện ấy, và cũng cảm thương cho… mình nữa. Nói cách khác, người đọc “gặp” được mình, tìm thấy mình, tìm thấy những điều họ muốn nói, muốn kể trong những trang sách của chị. Nhà văn là người viết thay cho người khác những gì họ từng nghĩ nhưng không viết ra được. Chị đã viết thay cho biết bao người, cho biết bao số phận. Cuốn sách ấy không còn là cuốn sách của… riêng chị nữa. Ai cũng có một “lối cũ chẳng sao quên”, và người đọc cám ơn chị đưa họ tìm về những đường xưa lối cũ ấy.

Bích Huyền: Bích Huyền nhận được khá nhiều ý kiến đóng góp cho “Lối cũ chẳng sao quên” và rất quý, rất trân trọng các nhận xét phê bình cho cuốn sách ấy, đặc biệt là những ý tưởng rất “mới” mà anh Lê Hữu vừa chia sẻ.

LH: Tôi cũng được biết, cả đến những tờ báo lớn ở Mỹ cũng đã có những bài báo, những trang viết về chị Bích Huyền. Một bài báo của Los Angeles Times, tháng Tư 1995, tôi còn nhớ, đã có những dòng viết, “Bích Huyền đã tìm cách chắp vá lại từng mảnh vụn của cuộc đời vỡ nát từ sau ngày chiến tranh kết thúc hai mươi năm về trước.” Liệu có đúng là chị muốn “chắp vá lại” những “mảnh vụn” ấy, hay là chị đã muốn lật qua một chương sách mới, để bắt đầu một cuộc sống mới, trong một khung cảnh mới?

Bích Huyền: Thưa anh, đúng là “lòng tôi muốn tạm yên” từ khi đặt chân lên quê hương thứ hai này. Tôi đã muốn quên hết, xóa hết, để được đi lại từ đầu như anh nói. Thế nhưng, những ai đã từng “tìm quên” đều biết rằng không phải là chuyện dễ dàng, vì… “khi cố quên là khi lòng nhớ thêm”, và vì vậy mới có… “Lối cũ chẳng sao quên”.

LH: Chị Bích Huyền có biết chị là một người thực sự hạnh phúc? Chị nhận được lòng thương yêu của gia đình và những người thân. Chị nhận được tình cảm quý mến của bao nhiêu là độc giả, thính giả. Chị có những tình bạn thắm thiết có chung một bề dày kỷ niệm, bề dày của gắn bó, cảm thông và tin cậy. Những hạnh phúc ấy không phải là ai cũng dễ dàng có được. Chị đã vượt qua tất cả, vượt qua những nghịch cảnh, như người ngã quỵ trong bão tuyết vẫn gượng đứng dậy được để bước tiếp… Và hơn thế nữa, chị đã quên đi nỗi đau của riêng mình, đã để lòng mình nghiêng xuống những số kiếp không may qua những nghĩa cử đầy lòng nhân ái, như việc bảo trợ các học sinh nghèo ở Việt Nam hay việc giúp đỡ các gia đình cựu tù nhân chính trị… Chị không ngại kể cho nghe về những việc làm ấy chứ?

Bích Huyền: Thưa anh, những việc anh vừa nói ấy được sự tiếp tay tiếp sức của người này người nọ chứ một mình Bích Huyền đâu có làm nổi. Một trong những công việc tôi cảm thấy vui nhất là chia sẻ với những gia đình HO vừa đến định cư ở vùng đất mới, từ việc giúp họ những vật dụng cần thiết như chén bát, quần áo, chăn nệm, bàn ghế cũ… đến việc giúp tìm kiếm nơi ăn chốn ở và việc làm thích hợp. “Nhóm HO” chúng tôi, gồm các anh Chu Tất Tiến, Phạm Thanh Tâm, Nguyễn Tiến Dũng (nay đã qua đời)… và một số anh em khác nữa được nhật báo Người Việt dành cho một phòng làm “trụ sở” để xúc tiến những công việc ấy… Tôi cũng không bao giờ quên được những cái chết thương tâm của gia đình HO mới sang và chúng tôi đã kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng trên nhật báo Người Việt để có tiền lo ma chay, và lần nào cũng được sự hưởng ứng rất đông.
Công việc thường xuyên của Bích Huyền hiện nay là bảo trợ các con em của thương phế binh VNCH và viên chức chế độ cũ ở trong nước có đủ tiền ăn học, mua sách vở giấy bút… Các con tôi và tôi, cùng một nhóm bạn thân tự nguyện bỏ tiền ra trong khả năng của mình để thực hiện công việc này, không lên tiếng kêu gọi sự đóng góp của nguồn nào cả.

LH: Thật là đáng quý khi biết được rằng, đâu đó trong cuộc sống vẫn còn rải rác những tấm lòng. Vẫn còn những con người trăn trở tìm mọi cách để mang về mùa xuân cho những phận người khốn khó. Như vậy thì cuộc đời này vẫn còn đáng yêu đáng sống, phải không chị Bích Huyền?
“Ngủ ngon mộng đẹp đêm nay”, chị vẫn hay gửi lời chúc ấy đến thính giả của chị ở cuối mỗi chương trình phát thanh, hẳn chị Bích Huyền phải có những giấc mơ ngọt ngào? Và chị có lời chúc nào gửi đến thính giả, độc giả của chị trong ngày đầu năm?

Bích Huyền: Giấc mơ lớn nhất vẫn là được nhìn thấy quê hương mình đổi mới và được trở về quê cũ, một nước Việt Nam có tự do, có dân chủ, có nhân quyền. Bích Huyền cầu chúc tất cả quý thính giả, quý độc giả, và anh Lê Hữu nữa, mùa xuân thật đầm ấm, thật tươi đẹp, một năm mới tràn ngập hạnh phúc, an hòa, và không chỉ… “ngủ ngon mộng đẹp đêm nay” thôi mà luôn có những giấc mộng dài, mộng đẹp suốt bốn mùa.

LH: Rất cám ơn chị Bích Huyền đã dành thì giờ cho buổi chuyện trò thật thú vị! Đầu năm Tây cuối năm Ta, xin chúc chị luôn trẻ đẹp, duyên dáng như mùa xuân, và giấc mơ của chị Bích Huyền–cũng là giấc mơ của bao người Việt khác–sẽ thành tựu trong những chương sách mới của chị. Và…, “xin lưu luyến chia tay” chị Bích Huyền!

Bích Huyền: Bích Huyền cũng “xin lưu luyến chia tay” anh Lê Hữu, và xin cám ơn anh đã dành cho Bích Huyền cơ hội được “tâm tình ngày xuân” cùng quý thính giả, quý độc giả kính mến.

Lê Hữu thực hiện

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 163
Xin Tra Lai Em - 8/1/2009 6:19:19 AM   
siliconband

 

Thành viên đang: offline







(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 164
RE: Xin Tra Lai Em - 8/4/2009 7:10:58 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

Cac ban yeu tho nhac:

Moi nhan them bai nay cua NS Minh Chau vua thu xong gui tu Paris qua. Xin chia xe voi tat ca.

Hai anh em hat xong roi nghe.n nga`o !

http://hathaykhongbanghayhat.org/node/2663

nmchau

(trả lời với: siliconband)
Bài thứ: 165
RE: Nhất Tuấn - 8/8/2009 4:43:08 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

Bích Lộc là người mở dù bụng vì đã báo trước khi nhẩy để MC bãi nhẩy giới
thiệu Bích Lộc với quan khách vá khán giả ở Quy Nhơn bữa đó


TRẦN KIỀU VINH


Bố cháu đã sống một đời oanh liệt
Khắp vùng trời…in dấu cánh dù hoa
Dù theo Bố…
Trên biển xanh , núi biếc
Xuyên mây hồng…rộn rã khúc quân ca

Và Mẹ cháu …
Nữ thiên thần Mũ Đỏ
Những người đầu
theo binh chủng oai hùng
Sóng vai bố
Cùng lướt ..theo hướng gió
Như ….mãn- thiên –hoa- vũ…giữa không trung

Tháng Tư Đen !!
người đi …không ngửng mặt
Lính bỏ Dân !
Tướng chạy trước hàng quân !!
Trần Văn Vinh, truyền thống Dù bất khuất
Trận cuối cùng bắn giặc chết đầy sân

Giá Tự Do…mua bằng đời biệt xứ
Con lưu đầy,
Bố gục chết …trong tù
Binh Chủng mình
Thêm bác Vỹ, bác Phú….
Theo Nguyễn Khoa Nam … vào Cõi Thiên Thu!!

Người ở lại…nổi trôi theo mệnh nước
Đại tá mù…hành khất sống qua ngày
Vẫn Charlie,
Hạ Lào …
trong tiềm thức
Phiến băng hồn …đuổi mãi… đóa dù bay

Giây tang đen, quyện máu hồng mũ thắm
Cánh thiên ưng, ghim ngực áo hoa rừng
Nhẩy Dù ơi,
-hỏi ai còn ai mất ?
Môi nào cười …mà lệ ấy… rưng rưng

Giây tang đen,
máu hồng mũ thắm
Cánh thiên ưng…
lìa .. áo… hoa rừng

Nhẩy Dù ơi !
Nhẩy Dù Cố Gắng !

Nhẩy Dù ơi …
Một đời. chiến thắng…!!!
Để tới bây giờ…
Nhìn những hiệu kỳ tiểu đoàn
…theo quân , quốc kỳ…
Bay vào…hư không !!

Trần Kiều Vinh, hôm nay
ngày cưới cháu
Chú làm thơ …
toàn những đoạn thơ buồn
Chú nhớ bố
Khóc Sư Đoàn yêu dấu
Đã tan hàng trên mảnh đất quê hương

nhất tuấn
(Truyện Chúng Mình/hải ngoại)

Bài thơ thay quà cưới nhân ngày con gái của
Mũ đỏ Trần Văn Vinh và Mũ đỏ Võ thị Vui lập gia đình
----------------------------------


NT post bai nay gan bai Nhung Nang Tien Mu Do de tuong nho Nu thien ThanVo Thi Vui

Mũ Ðỏ Võ Thị Vui
(Những ngày đầu xa tổ quốc)

( Bài viết dưới đây của Chiến Hữu Võ Thị Vui được ghi chép thời chị Vui còn mạnh khỏe, thời mà đôi mắt chị còn tinh anh, nay thì chị đã ra người thiên cổ; mời bạn đọc theo dõi bài viết với tấm lòng của chị với nghiệp lính và nghề văn đã một thời dấn thân cho quê hương đất nước và dân tộc).
Sau hơn hai mươi mấy năm tại xứ người lưu lạc, người quân nhân của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa xưa. Những người lính một thời mang quân phục, cầm súng giữ quê hương, ngày nay đã ra thân lữ thứ. Thỉnh thoảng có gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, nhưng khi chia tay nụ cười sao thấy ngậm ngùi. Từ kẻ ra đi năm 1975 cho đến người mới sang sau hàng chục năm bị tù đày, tâm trạng dễ giống nhau và vẫn thấy lạc lõng, thấy bơ vơ. Có chăng khi mặc lại bộ quân phục xưa trong các dịp lễ hoặc hội họp của Quân Ðội. Ta mới thấy nụ cười thực sự nở trên môi các người lính cũ đã từng tung hoành ngang dọc trên mọi chiến trường của bốn Vùng Chiến Thuật. Với nhiệm vụ người dân trong thời chiến, giữ vững an bình trên mọi nẻo đường đất nước.
Trong một buổi họp mặt của binh chủng bạn, tôi đã gặp lại một cấp chỉ huy xưa. Ông là một danh tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sang đây, thỉnh thoảng gặp lại, ông luôn luôn niềm nở thân mật, hỏi han như lúc xưa. Lúc ông còn là Tư Lệnh Sư Ðoàn TQLC của QLVNCH. Một Sư Ðoàn thiện chiến mà lũ Việt Cộng nghe đến đã co cẳng chạy lẹ. Ông gặp tôi cười và nói:
- Bà đã viết nhiều về đời lính của bạn bè, đồng ngũ thuộc các quân binh chủng, bà cũng đã viết về các Nữ Quân Nhân. Vậy tại sao bà không viết về các Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. Tôi biết Nữ Quân Nhân thuộc QLVNCH không ít, nhưng với binh chủng Nhảy Dù chắc chỉ đếm trên đầu ngón tay, tại sao không viết?
- Trình Trung Tướng, các chị có Bằng Dù trong Sư Ðoàn Dù, thật ra cũng không nhiều. Ða số chuyện xảy ra trong đời người Nữ Quân Nhân Nhảy Dù toàn là chuyện cá nhân. Cho nên không có gì để viết.
- Thì cứ xem như chuyện kỷ niệm của các cô gái… một thời in gót trên “không gian vương dấu giày” (thơ HHC).
- Thưa, tôi sẽ cố gắng…
Vừa chào vị chỉ huy xưa, tôi cũng gặp thêm một số chiến hữu khác, ai cũng khuyến khích tôi ghi lại những kỷ niệm xưa thời trong quân ngũ. Bạn bè còn nói thêm: “Bây giờ không viết, mai mốt chống gậy sức đâu mà viết”.
Viết gì đây? Tôi trả lời, thôi viết về lúc xưa các ông lén bà xã đi du dương với các em gái hậu phương được không.
Bạn bè la hoảng:
- Nè! Bộ muốn đốt nhà… bạn hữu sao?
- Ai biểu lúc đó các ông cứ ca “Anh tiền tuyến, em hậu phương” chi?
- Nhứt bà rồi đó. Thôi thì ghi lại chuyện tình của các Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. Giữ kín quá, lâu lâu bật mí cho anh em, để bắt chước và để mừng… cho bà.
Thế là trong lúc cao hứng, lỡ hứa với người Chủ Nhiệm KBC. Cho nên đêm nay, trong căn nhà nhỏ quạnh hiu nơi góc núi, tôi để hồn trở về dĩ vãng…
Năm 1955. Lúc đó tôi đã đầu quân vào Quân Ðội. Trong một dịp khao quân, tôi đã gặp Ðại Tá Ðỗ Cao Trí, trong đêm tiệc khao quân chiến thắng Bình Xuyên, ông đã gợi ý cho chúng tôi gia nhập Binh Chủng Nhảy Dù và chính ông cổ võ chúng tôi làm đơn xin được học Nhảy Dù. Lúc ấy tuổi trẻ hăng say, 30 cô gái đã tình nguyện học Nhảy Dù, cũng là khóa I Nhảy Dù của Quân Ðội do chính các quân nhân Việt-Nam thực thụ huấn luyện.
Sau đợt tuyển chọn, chỉ có 9 cô thực sự được theo học Nhảy Dù, khóa II cũng chỉ có 6 cô được theo học. Nhưng trong lúc huấn luyện nhảy thi lấy bằng, một nữ phụ tá xuống dù bị gãy xương mông nên không có bằng. Thế Là QLVNCH từ năm 1955 đến năm 1966 chỉ có 14 cô thực sự có bằng. Nhưng đến năm 1960 thì hai trong 14 cô đã được theo học Nhảy Dù điều khiển, có bằng Huấn Luyện Viên Dù. Sau năm 1967 đến năm 1975, có khoảng 10 cô nữa có bằng Nhảy Dù. Lúc trước năm 1965, muốn có Bằng Dù bất luận nam nữ đều phải nhảy năm lần ban ngày và hai lần ban đêm. Sau năm 1967 thì chỉ cần bốn lần nhảy là được cấp Bằng Dù. Bởi vì nhu cầu chiến trường nên thời gian nhảy huấn luyện rút ngắn lại. Ða số quân nhân Dù mới đều thở dài nhẹ… nhỏm, và mỗi năm người quân nhân Dù phải có bốn Saut nhảy bồi dưỡng để có thể ăn lương Bằng Dù. Ðó là kể những quân nhân Dù. Còn các huấn Luyện Viên dĩ nhiên gấp 10 lần hơn, vì huấn luyện khóa nào cũng phải nhảy theo. Và trong đời lính Nhảy Dù của phái nữ có nhiều vui buồn lẫn lộn, dĩ nhiên là chuyện… đàn bà. Tôi ghi lại đây một số chị em có với tôi nhiều kinh nghiệm, nhiều kỷ niệm của người con gái mang danh là Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ.
1. Dương Thị Kim Thanh:
Chị là một cán sự y-tế ngoài đời, được phục vụ ngành Quân Y. Người miền sông Hương núi Ngự, nhưng giọng nói đã lai… Sài Gòn 50%. Chị tốt nghiệp khóa I Nhảy Dù với tôi. Cũng là một trong 9 cô Nữ Quân Nhân Nhảy Dù đầu tiên của QLVNCH. Lúc đó chị 25 tuổi, là người lớn tuổi nhất trong 9 cô. Chúng tôi xem chị như người chị cả. Hiền lành nhỏ nhẹ. Phục vụ rất tận tâm trong ngành Quân Y, tuy quân số thuộc Sư Ðoàn Nhảy Dù (lúc đó là Lữ Ðoàn Nhảy Dù). Nhưng làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Lúc ấy, 9 cô khóa I đều là độc thân (bắt buộc) nên chị là hoa khôi của Tổng Y Viện Cộng-Hòa nhờ vào chiếc Mũ Ðỏ và Bằng Dù chị mang trước ngực. (Thời đó Nữ Phụ Tá mỗi ngành đồng phục, đội mũ calos trên đầu. Chỉ có các cô gái có Bằng Dù, được Bộ TTM cho phép đội Mũ Ðỏ dù phục vụ ở đâu). Chị đã cùng chúng tôi đi nhảy biểu diễn khắp các nơi và trong một Saut đặc biệt, tình yêu đã nở trên không. Ðại Úy Trương Quang Ân, người đứng thủ khoa của Võ Bị Ðà Lạt (khóa 7, năm 1952) đã cùng chị thực hiện lời ước mơ. Ðám cưới kết thúc mối tình không gian. Chị đã có ba con. Sau này chị là phu nhân Tướng Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Ông Bà đã tử nạn trong một tai nạn phi cơ trực thăng lúc đi thăm viếng tiền đồn. Ðể lại vành khăn tang trên đầu ba đứa bé, cùng một lúc mất cha lẫn mẹ. Ðêm nay ngồi đây viết đến dòng chữ này tôi đã không ngăn nổi hai dòng lệ chảy xuống thương cho ba cháu. Không biết bây giờ ra sao?
2. Nguyễn Thị Sang:
Chị cũng cùng khóa với tôi. Nhưng phục vụ ở Ðại đội Kỹ Thuật (Trung đội gấp dù). Chị người miền Nam cao lớn hiền lành vui tánh. Tuy lúc đó 19 tuổi mà chị như con nít, giận ai thì khóc lớn, phải dỗ và năn nỉ gần chết mới chịu. Khi nghe hứa đền cho cái bánh thì cười ngay. Có một lần đi nhảy biểu diễn ở Ban Mê Thuột, nhân dịp hội chợ. Có Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chủ tọa. Sau khi nhảy xong, chúng tôi trở về, đề nghị Trung Úy hướng dẫn đi xem thác Drakling. Khi về chị xin ngừng xe một chút. Ông Trung Úy trưởng toán không chịu ngừng. Chị kêu lên nếu Trung Úy không ngừng xe thì… tui chết ông phải chịu… Có lẽ sợ trách nhiệm nên Trung Úy cho ngừng xe. Chị nhảy xuống chạy tuốt vào bìa rừng… Năm phút sau, chị hớn hở chạy ra, tươi tỉnh không cần nhìn đến nét mặt cau có của Trung Úy trưởng toán. Lên xe xong, chị nói tỉnh bơ… “Ai cũng vậy, vua chúa cũng làm dzậy mà. Có dzô thì phải… có ra chứ”. Lúc đó mọi người mới biết là chị đi thi hành cái khoái thứ… tư.
Sau này, chị xin giải ngũ lý do “Má kêu về lấy… chồng”. Cho dù ông Trung Úy Trung đội trưởng gấp dù là người nổi danh khó tánh, cũng phải hi câu chấp thuận, mới chuyển đơn lên Ðại đội trưởng Kỹ thuật (Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam sau nầy). Nghe đâu vì sanh khó, nên chị đã từ trần. Nữ Thiên Thần thứ hai đã ra đi, để bạn bè đồng đội ngậm ngùi cho thân phận đàn bà.
3. Nguyễn Thị Thọ:
Chị cũng phục vụ trong TÐGÐ, người Hà Nội. Vào Nam cha mẹ mất chỉ có hai chị em. Chị rất vui tánh, thực thà, một mình thay cha mẹ nuôi em nên người. Chị có nhiều Saut Dù vì tình nguyện cùng chúng tôi đi nhảy biểu diễn khắp nơi. Lúc nào chị cũng thực thà nói với tôi là chị rất yêu thích miền Nam vì tính tình cởi mở, không khách sáo và trù phú dễ làm ăn, không khó khăn như ngoài Bắc quê chị nghèo nàn.
Sau này chị kết duyên với một Huấn Luyện Viên Dù Cao Ðăng Huynh, một trong những huấn luyện viên nhiều Saut Dù nhất. Vì đông con nên chị đã giải ngũ. Thế là khóa I không còn lại mấy người. Hiện gia đình chị bình yên ở Việt-Nam. Các cháu đều lớn cả.
4. Nguyễn Thị Liên:
Chúng tôi cùng chung một khóa học Dù, tuy là hai ngành khác nhau. Nhưng chúng tôi kết bạn xem như “Tình Bắc Duyên Nam”. Chị cũng là con gái Hà Nội, xinh xắn hiền lành, có hai răng thỏ rất có duyên. Sau này chị kết hôn với một sĩ quan Dù, nên giải ngũ ở nhà lo làm vợ hiền. Nhưng sau, Trung Tá Nguyễn Văn Thạnh bị Việt Cộng phục kích chết tại Vùng IV Chiến Thuật. Chị thay chồng nuôi đàn con dại. Không biết hiện giờ chị ở đâu? Tiểu bang nào?
Còn nữa. Trong 9 cô Nhảy Dù được mệnh danh là Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ còn có Khánh, Hương, Hoa (một chị nữa tôi quên tên) đã có Bằng Dù nhưng giải ngũ rất sớm. Hiện tại không biết lưu lạc phương nào. Các chị có ra đi hay còn ở lại?
Và từ khóa II thì có:
5. Ngô Bích Lộc:
Người con gái sinh trưởng tại Thủ đô Hà-Nội. Chính gốc tiểu thư Bắc Hà, dáng gầy cao, nhìn bề ngoài giống con trai nhiều hơn gái. Nó rất tinh nghịch, nhưng mỗi lần đứng trước của phi cơ chờ nhảy chỉ cần nghe tiếng của Huấn Luyện Viên nói “Go!” là phóng ra. Nó còn nhìn lại tôi nháy mắt, hẹn sau Saut Dù phóng ra Hóc Môn ăn bì bún, cái món miền Nam nó mê nhất. Tuy là đầm Tây nhưng lại Việt-Nam hơn cả các bạn Việt-Nam. Xếp của chúng tôi lúc bấy giờ là Trung Úy Nguyễn Ngọc Hạnh (Trung Tá Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh) thường hay bắt chúng tôi ra làm “người mẫu” cho ông chụp. Lúc nào nó cũng nói thầm với tôi rằng: “Khiếp thật! Tao mà ế chồng cũng vì làm người mẫu cho Lão này, mày ạ…” Tuy thế, nó vẫn có nhiều người xin bàn tay. Nó lại dân Tây cho nên rất tự nhiên trong sự giao thiệp. Cái điều kỵ nhất của các bà xếp chỉ huy, lúc bấy giờ các bà lúc nào cũng muốn nhân viên của mình e ấp… tiểu thư. Bích Lộc chúa ghét lối giả tạo, tôi bắt chước theo. Cho nên hai chúng tôi được các bà chỉ huy liệt vào hạng “ba gai”.
Sau này nó bực mình không chịu ở Quân Ðội, xin giải ngũ, ra làm phóng viên cho hãng Reuter, tiếng Anh như gió, nó sang Mỹ làm việc sớm lắm. Sau 1975, nó mở một nhà hàng trên D.C. Khách hàng của nó từ ông Tổng Thống đến các Bộ Trưởng, nhân viên ngoại giao, Thượng nghị sĩ, Dân Biểu đều đến nhà hàng của nó. Nhà hàng nổi tiếng ngon, khung cảnh đẹp. Lúc tôi sang D.C. tham dự 50 năm kỷ niệm Nhảy Dù của Quân Ðội Mỹ. Nhìn nó tiếp đãi quan khách ở nhà hàng, tôi thấy nó quyết định giải ngũ sớm là đúng.
Thỉnh thoảng hai đứa gặp nhau qua phone cho dù đôi bạn lúc xưa, bây giờ có hai thứ tóc, đều làm chức… Bà cả rồi… Mà vẫn mày mày, tao tao như 40 năm về trước, gặp nhau đều khen nhau đẹp… lão.
6. Trần Xuân Lan:
Sinh trưởng ở miền Hậu Giang, tánh thực thà. Người nhỏ con nên khi mặc bộ đồ Dù, đứng trong hàng chờ điểm danh lên phi cơ chúng tôi đều cho nó lên hàng đầu, vì sợ Huấn Luyện Viên Dù bỏ sót nó. Xuống dù luôn luôn nó xuống sau, dù là nhảy trước. Nó đủ điểm nặng chứ không dư ký thịt da nào. Chúng tôi hay chế nhạo nó đi nhảy phải đeo thêm đá. Nó giận lên mét cấp trên. Làm chúng tôi bị rầy. Tuy thế mà người chỉ huy khi nghe nó khiếu nại cũng phải nở nụ cười kín đáo.
Sau lần dang dở tình yêu với một sĩ quan Mũ Ðỏ nó thề không lấy chồng nữa. Nghe đâu hiện nay nó về quê ở Sa Ðéc làm nghề y tá… vườn rất khá. Không biết có lúc nào nó nhớ lại lúc còn áo hoa Mũ Ðỏ hay không?
7. Bùi Ngọc Thúy:
Cũng sinh đẻ tại Bắc Việt. Nhưng quê nó ở Nam Ðịnh (?) được tính thật thà. Bị bạn bè hay chế nó là “Hăng Rô”. Nó không biết, hỏi tôi rằng: “Tại sao chúng nó gọi tao tên… Tây vậy hở?” Tôi cười đáp ngay là miền Nam hay nói lái. Hăng Rô… tức là “Thưa cô rằng. Ngược là… Răng cô… thừa…” Vỡ lẽ ra, nó kêu tên tam đại tụi bạn ra chửi. Ðược thể tụi bạn còn chọc thêm. Tuy xin tình nguyện đi Nhảy Dù nhưng nó sợ lắm. Bao nhiêu lần định bỏ dở, nhờ tôi khuyến khích. Có lần được lệnh đi nhảy ở Bình Ðịnh, tôi dặn nó: “Năm giờ có lệnh tập họp. Mày nên để đồng hồ reo chứ không thì ngủ quên”. Nó hứa chắc.
Saut dù biểu diễn đó, nó không có mặt lúc lên phi cơ. Hôm sau nó trình diện người chỉ huy, với khuôn mặt bầm một bên má, cánh tay thì băng bó, có giấy bác sĩ cho nghỉ ba ngày. Tôi hỏi nó tại sao? Nó mắng tôi: “Ðồ ranh con. Ông nghe lời mày nên ông không đi nhảy biểu diễn được”. Tôi ngạc nhiên nhìn nó dò hỏi nguyên nhân. Nó bảo: “Tại mày dặn để đồng hồ reo. Khi nó reo tao đang nằm mơ. Tưởng tiếng chuông phi cơ cho lệnh GO nên tao nhảy ra. Từ trên giường hai tầng nhảy xuống mang theo cả màn mền, bị bầm mặt. May mà không gãy… răng là phúc ba đời rồi. Còn hỏi gì nữa? Ông không chửi mày là may cho mày lắm rồi. Còn làm bộ tử tế hỏi móc ông hả?” Tôi thầm nghĩ: “Ðúng là đồ Bắc Kỳ chanh chua… Làm ơn mắc oán”. Nghĩ thế nhưng tôi không trả lời, hoặc nói ra ý nghĩ đó. Vì sợ nói tạc dzăn nổi giận thì tôi cũng được bác sĩ cho ba ngày… dưỡng thương.
Bây giờ, nó và gia đình định cư, an lạc tại xứ… Úc. Lâu lâu, nó gọi phone sang kêu: “Mày, mày chịu khó sang tao chơi. Tao đãi mày… Mít Ðặc”. Già rồi vẫn còn con nít và mái Tây Hiên của nó vẫn còn… chưa rụng.
8. Nguyễn Thị Thân:
Chị này lớn tuổi nhất của chúng tôi lúc bấy giờ. Chị cũng sinh trưởng ở Bắc Việt, người quê Phát Diệm. Chị góa chồng lúc còn ở Hà Nội, rất xinh đẹp, mắt bồ câu, da trứng gà. Người cao lớn như đầm. Nhưng chỉ giống đầm về nhan sắc và vóc dáng. Khi chị nói thì sặc thổ âm quê của chị. Ví dụ, chị hay lộn chữ D thành chữ R và ngược lại. Khi nhảy dù xuống bãi, thì lệnh bắt buộc cuốn dù lại cho vào bao và vừa chạy về địa điểm tập họp trình diện Sĩ quan Bãi nhảy. Vừa chạy vừa kêu to là “Nhảy Dù cố gắng”. Bất luận nam hay nữ đều phải theo lệnh này. Cho nên chị cũng không ngoại lệ… cứ vừa chạy… vừa la to “Nhảy.. Rzù… cố gắng. Nhảy… Rzù… cố gắng”. Tôi và Bích Lộc chạy theo sau cũng gào to “Nhảy.. Rzù… cố gắng. Nhảy… Rzù… cố gắng”. Chị quay lại mắng ngay “Nằm kí rì mà to mồm vậy…? Ðồ khỉ gió…” Lũ “khỉ gió” cứ ngoác mồm la “Nhảy… Rzù… cắn gố…” (cố gắng).
Chị là người cẩn thận, lúc đi nhảy chị băng độn hai đầu gối bằng băng cứu thương thật dầy. Chị nói rằng khỏi sợ bị trầy đầu gối khi xuống dù, mặc jupe không đẹp. Nhưng chị không nhớ là đầu gối không quan trọng bằng đầu, chân và mông khi xuống dù.
Sau này chị tái giá với một sĩ quan Dù, có thêm năm con. Hiện chị ở trên Washington State từ 1975.
9. Mai Thị Minh:
Nếu chị Thân là hoa khôi của Dù từ năm 1956 đến 1960, thì Mai Thị Minh là hoa khôi Dù từ năm 1962 đến 1975. Nó đúng là con gái Hà Nội chính cống. Nhà giàu, chính Trung Tướng Thiệu, Ðại Tướng Viên lúc còn trẻ ra Bắc cũng thuê nhà của nó mà ở. Sau di cư vào Nam, gia đình bẩn chật, nên nó vào Nữ Phụ Tá. Ðúng gái Hà Nội, đẹp và tiếng nói dịu dàng mọi người đều công nhận. Phục vụ tại bệnh viện Ðỗ Vinh của SÐND. Có một vài “bà bác sĩ” (có nghĩa là vợ của bác sĩ) thấy nó bèn ôm ghè tương, nếu hôm đó ông chồng trực tại bệnh viện. Thật tội cho nó vì nó không bao giờ trực đêm cả. Vì nó độc thân nên có nhiều anh hùng để mắt. Có lẽ vì tưng tiu, nó vẫn còn hình bóng của người anh hùng TQLC năm nào ngã gục trên chiến trường ở tận địa đầu giới tuyến, để lại vết thương lòng cho Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ tài sắc.
Hiện nay nó ngày ngày một gánh bún riêu dạo khắp xóm bán nuôi thân. Có ai ngờ người đàn bà lam lũ kia đã có một thời nổi tiếng Hoa Khôi Mũ Ðỏ giầy Saut, nón đỏ áo hoa đã làm một anh hùng nghiêng ngửa…
Còn nhiều nữa. Nào Nguyễn Thị Nguyên Hoành, Lữ Thị Tám. Nguyễn Thị Thịnh, Nguyễn Thị Hợi, Phan Cẩm Phi, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Ðào Thị Phùng, Võ Thị Vui. Những Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ của Quân Lực VNCH lúc xưa. Nay người ra thân lữ thứ, người còn lại quê hương với bao nỗi xót xa. Có lúc nào nhớ lại lúc xưa “không gian vương dấu giày” (HHC). Lúc còn đội chiếc Mũ Ðỏ, tung mình ra không trung mang lại hãnh diện cho con cháu Triệu Trưng. Nếu nhớ lại vô tình dòng lệ tiếc thương lặng lẽ chảy xuống khóc cho mình hay người Nữ Quân Nhân Dù khóc cho quê hương?

< Được sửa bởi: htp76 lúc 8/10/2009 3:26:19 PM >

(trả lời với: lonton)
Bài thứ: 166
RE: Nhất Tuấn - 8/9/2009 4:50:01 AM   
siliconband

 

Thành viên đang: offline




(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 167
RE: Nhất Tuấn - 8/22/2009 3:09:38 AM   
Hu Vo

 

Thành viên đang: offline

Xin mời cả nhà nghe chương trình CÂU CHUYỆN THƠ NHẠC do chị Bích Huyền thực hiện trên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA . Chủ đề :


Tình Yêu Nơi Giáo Đường





Noël là thời điểm diệu kỳ nhất trong năm, tiếng chuông giáo đường ngân nga trong đêm, giữa ánh nến lung linh huyền ảo và mùi lá thông ngập tràn trong gió. Gợi lên những cảm xúc êm đềm và thánh thiện, gợi lên bao kỷ niệm đã xa . Trong câu chuyện Thơ Nhạc của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đêm nay Bích Huyền xin mời quý vị và các bạn nghe lại một vài ca khúc phổ từ thơ tình yêu nơi giáo đường xưa...


Mimosa Thôi Nở

Noël xưa anh nhớ
Khi hãy còn yêu nhau
Nhà thờ nơi cuối phố
Thấp thoáng sau ngàn dâu
Anh chờ em đi lễ
Chung dâng lời nguyện cầu
Mimosa... bừng nở
Đẹp như tình ban đầu
Đàlạt mờ trăng lạnh
Đường về ta bước mau

Rồi anh hỏi khẽ em
Đã xin gì với Chúa
Trong đêm lễ Noël
Em lắc đầu chả nhớ
Nhưng hồng lên đôi má
Nắm tay anh đợi chờ
Trông em sao xinh quá
Và ngoan như nàng thơ

Mới bốn mùa thu qua
Mimosa vẫn nở
Sao mối tình đôi ta
Ai làm cho dang dở

Đêm nay Noël đây
Chuông nhà thờ khắc khoải
Gió đồi lang thang bay
Mưa buồn giăng ngõ tối

Anh quỳ bên tượng Chúa
Cúi đầu chắp hai tay
Lạy Chúa con chờ đợi
Người ngày xưa về đây
Nhưng em không về nữa
Đường khuya mưa bay bay
Mimosa thôi nở
Trong hồn anh đêm nay.

Nhất Tuấn



(Nguồn: voanews.com)


*HV xin chân thành cảm tạ chị Bích Huyền và chú Nhất Tuấn đã giới thiệu chương trình này.

_____________________________

"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."

(trả lời với: siliconband)
Bài thứ: 168
RE: Truyện Chúng Mình - Nhất Tuấn - 9/2/2009 5:38:55 AM   
siliconband

 

Thành viên đang: offline





Kyra hát

Hôn Nhau Lần Cuối

Thoáng bóng anh về qua phố nhỏ
Tiếng lòng se sẽ vọng canh trường
Trăng mười sáu trời tô màu thắm
Hay áo ai hồng bụi viễn phương

Truyện tám năm xưa bừng sống lại
Dựa bên cửa sổ mắt rưng rưng
Sao em cứ đứng im im mãi
Nửa bước chân ra nửa ngại ngùng

Đôi mắt anh nhìn xao xuyến quá
Lòng như ngây ngất chút men say
Rồi không ngăn được niềm thương nhớ
“Hai đứa ghì trong bốn cánh tay”.

Trời ơi tiết hạnh với ân tình
Nghĩ tới làm em lại giật mình
Chuyện cũ chưa chôn vào dĩ vãng
Xin người đừng phá cửa kiên trinh

Nhắc lại làm chi chuyện bẽ bàng
Kể từ chít vội mảnh khăn tang
(Đâu còn nũng nịu khăn xanh nữa )
Hương sắc ngày xưa đã úa tàn

Anh hãy trở về yêu nước non
Để em cam chịu thế là hơn
Chồng chưa xanh mộ, con hai đứa
Dẫu biết... từ nay sống mỏi mòn.

Nếu vẫn còn thương nhớ đến nhau
Mong gì ô-thước lại chung cầu
Mỗi đêm chợt gởi hồn trong mộng
Một phút giao thần... đẹp biết bao.

Đừng tiếc hoa tàn, nhụy tả tơi
Hôn nhau lần cuối nữa đi thôi
Anh về cho đẹp trang bi sử
Và cứ coi em đã chết rồi.

Nhất Tuấn
(Truyện Chúng Mình III. 1964)

(trả lời với: nmchau)
Bài thứ: 169
RE: Truyện Chúng Mình - Nhất Tuấn - 9/17/2009 1:49:56 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

CHIA BUỒN




Được tin buồn, thân mẫu nhạc sĩ Hoàng Mị (Seattle, Washington):

Cụ bà Trần Ngọc Phụng
thất lộc ngày 01/08/2009
hưởng thọ 81 tuổi


Trong tang lễ vô cùng đau đớn này, chúng tôi thành thật
phân ưu cùng anh chị Hoàng Mị và Tang Quyến. Nguyện cầu
Hương Linh cụ bà Trần Ngọc Phụng sớm về Cõi Vĩnh Hằng.


thi sĩ Hà Thượng Nhân (CA)
thi sĩ Đông Anh (CA)
thi sĩ Tâm Thơ (CA)
thi-nhạc-sĩ Phạm Anh Dũng (CA)

thi sĩ Vũ Quang Hân (WA)
thi sĩ Trần Mộng Tú nt
thi sĩ Lam Nguyên nt
thi sĩ Nguyễn Văn Thu nt
thi sĩ Quốc Nam nt
nhạc sĩ Liên Bình Định nt
thi-nhạc-sĩ Cao Hoàng nt
thi sĩ nhất tuấn (WA)


VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

< Được sửa bởi: hodinhvu lúc 9/17/2009 11:34:09 PM >

(trả lời với: siliconband)
Bài thứ: 170
RE: Truyện Chúng Mình - Nhất Tuấn - 1/3/2010 4:05:15 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

VÁN BÀI TAM CÚC NÊN DUYÊN

-Một cây !
Em hạ Tướng Bà
Tướng Ông tôi có, nhưng mà… tôi chui
-Tượng xanh !!
Đôi gọi!! Reo vui…
Âm thầm tôi thiệp cả đôi…tượng vàng
-Tốt đen tứ tử trình làng !!!!
Vất nhanh bốn đỏ cho nàng “ăn luôn”
Vì tôi chẳng muốn …ai buồn
Sợ khuôn mặt ngọc thoáng vương nét sầu

Cùng tranh nhau để nhường nhau
Thương làm sao thuở ban đầu thần tiên
Ván bài tam cúc nên duyên
Người thua giữ được…người quên…giờ về

Xuân Tha Hương dưới trăng thề
Kể câu chuyện cũ lòng nghe bồi hồi
40 năm đã chung đôi
50 năm nữa xin đời ...be^`n la^u.

Thời gian thấm thoát qua mau
Trải bao dâu biển , bên nhau êm đềm
Cả hai mái tóc bạc thêm
Run tay gậy chống cùng xin một lời
Chúng con đã có nhau rồi
Ván bài tam cúc…duyên Trời ban cho
Đẹp hơn là những vần thơ…
Đến bây giờ vẫn còn ngờ chiêm bao

Nhất Tuấn
(Truyện Chúng Mình/ Hải Ngoại)

< Được sửa bởi: htp76 lúc 1/13/2010 10:13:01 PM >

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 171
RE: Truyện Chúng Mình - Nhất Tuấn - 1/3/2010 4:18:32 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

Dau nam 2009 , qua nhac si Minh Chau o Paris, Nhat Tuan quen voi Pho Xua va duoc nhieu ban tre Pho Xua giup do (trong do co anh chi Ho Dinh Vu, Hu Vo...) Hom nay la 03/01/2010 , vang mat kha lau tren Khu Pho Xua voi trang Tho Nhat Tuan, toi lai nho*`Ho Dinh Vu... chi bao cach vao va post mot vai bai tho, bai viet de quy vi than huu va cac ban tre doc cho vui ba ngay Xuan.
Ky sau se hoi cach viet chu co dau. Xin tha thu cho moi su so xuat lan nay.
ntuan
---------------

< Được sửa bởi: hodinhvu lúc 1/3/2010 5:02:21 PM >

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 172
RE: Truyện Chúng Mình - Nhất Tuấn - 1/3/2010 4:37:29 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

Them 1 bai Tho va 1 bai viet ve Tong Thong Nguyen Van Thieu, vi Chi Huy Truong Truong Vo Bi Lien Quan Dalat khi toi nhap hoc 15/10/1955, Khoa 12 Cong Hoa.

Rat mong quy vi doc bai nay va luu y phan GHI CHU trong bai, dac biet ve 3 cuon sach cua John Perkins , Daniel Marvins. va` Tran Ngoc Chsu ..de tha^'y noi Uat Han cua nguoi dan mot nuoc Nhuoc Tieu,
Oi thi si nhu Nhat Tuan ... tuong chi lam tho ma thoi, ngo dau theo Giong DDo*`i voi So'ng Tho*`i Gian cung lien he toi ...qua nhieu chuyen trong doi , nhu chi Hu Vo da hon mot lan de cap khi doc Nhung Ky Niem voi Nganh Phat Thanh cua toi. Mong doc gia hieu cho noi long cua nhat tuan.

Kinh Chuc quy vi Tan Nien 2010 va TET Nguyen Dan Canh Dan Van An Van Hanh.

ntuan
-----------


Sinh Viên Văn Khoa Áo Rằn

Tặng Cọp Biển N(CQ) theo chuyện của Giao Chỉ



Tháng Hai đem quân ra Huế
Gặp cô Sinh Viên Văn Khoa
Kiều Nữ sông Hương đẹp rứa
Môi hồng áo trắng thướt tha

Người hùng TQLC
Mục tiêu xin trái tim em
Thiên duyên kiếp nào đã hẹn
Yêu nhau say đắm ngày đêm

Yêu anh, em mặc Áo Rằn !
Cho anh hai con Quốc , Việt
Bão Sóng Thần năm 75
Giật sập miền Nam tan nát

Người cải tạo, kẻ vượt biên
Bao nhiêu thây phơi sóng biển
Trong tù nuốt nhục ngày đêm
Tương lai…con thuyền không bến !

Tình đôi ta chia …đôi ngả
Giờ phân ly …đã tới rồi!!
Nguyện cầu cho em hạnh phúc
Nuôi hai con nơi Xứ Người

Nhớ mãi…ai chung áo lính
Thương hoài hoa bướm ngày xưa
Tưởng tình đôi ta…thiên định
Mình mất nhau từ bao giờ?

Tháng Tư Bẩy Lăm : Quốc Nạn
Nên toàn dân phải chung phần
Vợ chồng, cha con …cam phận
Cho vẹn tròn với ân nhân

Chiều buồn trong căn phòng nhỏ
Lan Hương anh vẫn yêu em
Đêm dài… từng đêm anh nhớ
Nhớ rồi anh lại …xin quên !!

Em hai mối tình diễm tuyệt
Còn anh hai lần dở dang
Cuối đời sống nơi viễn xứ
Cùng gọi nhau là…cố nhân

Trong tim Sông Hương Xứ Huế
Sinh Viên Văn Khoa Áo Rằn !!

Nhất tuấn
(Truyện Chúng Mình /HN-2009)



XIN BÌNH AN CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT

Kính truy tặng cố Trung Tá Chỉ Huy Trưởng,
Cố Tổng Thống VNCH Nguyễn văn Thiệu

( Phạm Hậu, K12/VBLQĐL)


1 -Những năm tháng đau buồn ấy
Được mời bất ngờ, cùng các bạn Đài Phát Thanh QĐ và Báo Diều Hâu & Phòng Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến dự bữa cơm tối tại hoa viên Dinh Độc Lập với Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, rồi khoảng 2 tháng sau tôi bàn giao đài Phát thanh Quân Đội cho anh Văn Quang để theo học Khóa 7 Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp (CHTM/CC).
Mãn khóa, 1/1971, về lại TC/CTCT và sau đó tôi qua Bộ Thông Tin, quản trị Nha Vô Tuyến Truyền Thanh (VTTT).

Việc đề cử tôi về VTTT khi tôi còn đang học lớp CHTM/CC trên Đàl Lạt là do ông Hoàng Đức Nhã, khi đó là Bí Thư Tổng Thống kiêm Tham Vụ Báo Chí Phủ Tổng Thống, và được sự chấp thuận của TT Nguyễn văn Thiệu. Hơn 30 năm sau, ông Nhã kể lại khi trình hồ sơ với những lý do tại sao chọn tôi trong danh sách ứng viên do nhiều cơ quan, yếu nhân, đoàn thể đề nghị, Tổng Thống Thiệu coi hồ sơ, và thấy tên tôi, tốt nghiệp VBDL/K12, ông mỉm cười nói với ông Nhã: “Còn nhớ anh chàng này!”

Từ ngày tôi về điều hành VTTT (20/07/1971), sau đổi là Hệ Thống Truyền Thanh VN (HTTT/VN) thuộc Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi (BDVCH), tiếp theo qua đảm trách Tổng Giám Đốc Việt Nam Thông Tấn Xã, (trực thuộc Bộ DV & CH) tôi và hai cơ quan truyền thông trọng yếu này đã hòa nhập ngay vào “guồng máy quốc gia” cùng Đệ Nhị Cộng Hòa và toàn dân Miền Nam, nổi trôi theo Mệnh Nước, qua Mùa Hè Đỏ Lửa cùng Bình Long Anh Dũng, Kontum Kiêu Hùng Trị Thiên Vùng Dậy …

Và rồi …Tháng Tư Đen 30/4/1975, như một trận Bão Thần kinh hoàng ập tới, kéo sụp Miền Nam của chúng ta.
Nhớ tới những tháng ngày kinh khủng và cuộc đổi đời đó, tôi cũng viết vài bài đề cập tới :
*giờ phút chót thoát khỏi VN (1),
*và “Những Kỷ Niệm với Ngành Phát Thanh” (2)

Nhân dịp phát hành “Kỷ Yếu Khóa 12”, vào tuổi “cổ lai hy” tôi muốn viết ít cảm nghĩ về “Trung Tá Thiệu, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu” để các bạn Khóa 12 rõ ; và nếu cuốn kỷ yếu này tới tay các độc giả bên ngoài, xin quý vị tùy nghi tìm hiểu thêm những năm tháng đau buồn ấy của Miền Nam thân yêu

2- Hoàn cảnh VN thời Đệ Nhị Cộng Hòa
Khác xa với Đệ Nhất Cộng Hòa thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, khi Ông Thiệu làm Tổng thống thì Hoa Kỳ đã áp đặt được nền Dân Chủ kiểu Mỹ mà họ rất hãnh diện, để chỉ bảo cho các quốc gia nhược tiểu chậm tiến trông vào Mỹ mà bắt chước. Thấy vậy nhưng không phải vậy, vì trên thực tế, Việt Nam bị những áp chế lấn luớt dưới đây của anh bạn Đồng Minh kiêu căng:

a- Cùng một lúc họ cử 2, 3 Đại Sứ, Phó Đại sứ tới thường trực tại VN; về phía quân sự, họ đưa qua cả chục tướng lãnh sao đầy trên vai, trên cổ áo. Thêm vào đó, tại Miền Nam VN còn có hơn nửa triệu quân của Mỹ, và quân của đồng minh (Đại Hàn, Thái Lan, Phi, Tân Tây Lan, Úc…)
b- các cố vấn Hoa Kỳ thì lan xuống tới cấp Tiểu Đoàn, Chi khu.
c- Mỹ có các Đài Phát Thanh riêng, có các Đơn Vị Dân Sự Chiến Đấu và tiêu tiền dollars riêng. Đại Hàn cũng có đài phát thanh riêng tại VN cho quân đội của họ.

Quân đội Mỹ tràn vào VN đúng vào thời gian nội các quý ông Phan Huy Quát & Bùi Diễm (nhóm Đại Việt) cùng kỹ sư Phan Khắc Sửu điều khiển guồng máy quốc gia và quý vị lãnh đạo này, tiếc thay , không ai dám phản đối quyết liệt.

Thương quá anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm của Đệ Nhất Cộng Hòa trước đó đã bị thảm sát vì chống đối không chịu để Mỹ trực tiếp tham chiến tại miền Nam. Anh em ông Diệm Nhu Cẩn…họ không muốn cuộc chiến đấu chống Cộng mất hết chính nghĩa qua sự hiện diện của quân ngoại quốc tại Miền Nam.

Gần đây, cuốn sách Triumph Forsaken: the Viet Nam War,1954-1965, của Tiến sĩ Mark Moyar, hiện là giảng viên tại đại học Thủy Quân lục Chiến của Hoa Kỳ ở Quantico, tiểu bang Virginia, “đã phản bác phương cách giải thích thông thường về vai trò của HK trong cuộc chiến. Sự đóng góp lớn của ông Moyar là đã cho thấy rằng quyết định của HK bỏ rơi ông Diệm và giúp lật đổ ông ta là lỗi lầm lớn nhất trong cuộc chiến” (3)

3- Thuợng tôn Pháp Luật
Sau nhiều cuộc chỉnh lý, đảo chính…những ngôi sao mọc nhanh hơn nấm, đủ loại tướng. Nhưng có một số nhỏ tướng bất tài, vô kỷ luật cũng như vài chính trị gia không đặt quyền lợi Tổ Quốc lên trên và còn làm bậy, làm hại cho tinh thần chiến đấu chống Cộng của quân dân Miền Nam, xét theo luật, ông Thiệu trừng trị họ thẳng tay.
Ông Thiệu nổi tiếng là rất kỹ khi ban tặng các huy chương, nhất là Bảo Quốc Huân Chương với ngành dương liễu; và khi các cơ quan Tư Pháp trình lên, những vụ nhũng lạm, phạm pháp, nếu có đầy đủ chứng cớ, Ông cũng đã xử phạt nhiều tướng lãnh khá nghiêm ngặt bất ngờ.
Trong số này nhiều vị đã là sỹ quan cấp tá , Tư Lệnh Liên Đoàn BB ở ngoài Bắc trước 1954 khi ông Thiệu còn ở cấp đại uý , cũng như nhiều vị là cựu bộ trưởng, đương kim tư lệnh sư đoàn do chính ông bổ nhiệm, hay có vị đã từng đảm nhận chức Tư lệnh Sư Đoàn, Tư lệnh BinhChủng trước ông ngay từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa, bị phạm kỷ luật nặng có chứng cớ thật rõ ràng thì cũng không khoan nhượng.

4- Truy tố, tống giam hay quản thúc trong khi chờ Tòa xét xử:
ÔÔ. Nguyễn tấn Đời , Bác sĩ Trần Kim Tuyến , Dân Biểu Trần Ngọc Châu, Nghị sĩ Nguyễn văn Chức….

5- Cho ký giả ngoại quốc …biết phép nước
Từ cuối thập niên (19)60, VN là nơi rất đông ký giả ngoại quốc tới thuờng xuyên. Một số, nhất là ký giả Hoa Kỳ, lộng hành làm trời làm đất, coi dân Việt, cảnh sát và giới chức thông tin của ta…bằng nửa con mắt.
Khi ông Nhã, em họ Tổng thống Thiệu, giữ chức vụ Bí Thư Tổng Thống (1968), tiếp kiêm Tham vụ báo chí Phủ TT (1969),và sau coi Bộ Bộ Dân Vận & Chiêu Hồi, ngay từ đầu đã chỉ thị Trung Tâm Báo Chí (TTBC) theo dõi thật sát để giữ đám ký giả ngông nghênh này trong khuôn phép.

Những chuyên viên của TTBC đa số đều tốt nghiệp Cử Nhân, Cao Học tại ngoại quốc. Họ tình nguyện về phục vụ Đất Nước với quyền lợi lương bổng bằng ½ nhiều khi bằng 1/5 so với các hãng ở Mỹ, Pháp, Đức, Úc , Nhật trả cho họ.
Ví dụ ông Cục Phó Cục Thông Tin Quốc Ngoại, trong đó có Trung Tâm Báo Chí (TTBC) mà ông trông coi. Ông Trần Khánh Vân này có bằng kỹ sư hầm mỏ tại trường University of Missouri, School of Mines. Ông đậu Thủ Khoa, nhưng đặc biệt, điểm tốt nghiệp của ông cao nhất trong lịch sử từ khi ngôi trường rất danh tiếng này được thành lập
.
Phối hợp trước vói cơ quan An Ninh, nhiều phóng viên ngoại quốc (đa số là Hoa Kỳ) gây rối lọan nơi công cộng, uống rượu say lái xe, đánh nhau dành gái bị “các em” khiếu nại…và xe Cảnh Sát …rất tình cờ …tới lúc đó, để nhân viên công lực còng tay ngay trên phố đông, hay nơi khách sạn, giữa tiệm ăn …rồi đẩy kẻ phạm pháp lên xe về bót nằm ít giờ hay 1, 2 ngày. Văn phòng ông Vân là cứu tinh của họ trong các trường hợp này, và lẽ dĩ nhiên tùy “lý lịch riêng” của mỗi người, Ông Vân sẽ giúp họ khác nhau. Có người 1,2 giờ ngồi cho muỗi đốt. Có người ...phài chờ vài ngày, nằm ép rệp, ngửi mùi nước tiểu khai nồng, thèm thuốc điên người. Trường hợp “đặc biệt” 3, 4 phóng viên bị trục xuất khỏi VNCH, trong đó có trưởng phòng đại diện của báo Newyork Times, dù đại sứ Bunker đích thân can thiệp với Ông Nhã, nhưng cuối cùng hắn vẫn bị đuổi về Mỹ!
Đây là thành tích ngoạn mục nhất, ông Vân theo lệnh ông Nhã, cho ký giả ngoại quốc ở VN “ biết phép nước “…mà các trào truớc, thời cụ Diệm, thời quý ông Phan Huy Quát, Bùi Diễm, Phan Khắc Sửu, thời tướng Kỳ… chưa có trường hợp tương tự.

6- Rất thương quân sĩ và vô cùng can đảm
Ông Thiệu là một trong những sỹ quan có bằng nhẩy dù tuy không bắt buộc vì ông không ở binh chủng này. Trước đó khi là sĩ quan cấp úy, ông đã phục vụ tại Đệ Tam quân Khu Bắc Việt cùng các sỹ quan cấp úy cấp tá như: Trần Thiện Khiêm, Phạm văn Đỗng, Dương Quý Phan, Nguyễn BảoTrị, Tôn Thất Đính, Trần Văn Cường, Đỗ ngọc Nhận, Đỗ Mậu v ..v..Khi biết chuyện Quỹ Tiết kiệm Quân Đội có sự mờ ám và bọn đầu nậu lon to lấy tiền lính góp hàng tháng để đầu tư riêng cho phe cánh tài phiệt của họ, ông cho lệnh điều tra ngay. Có chứng cớ rõ ràng, ông bãi bỏ quỹ này, trả lại tiền cho lính cùng nghiêm phạt các giới chức liên hệ .

Mùa Hè Đỏ Lửa, tháng 5/1972, ông Thiệu ra thanh sát chiến trường Trị Thiên. Đoàn xe 6 chiếc Jeep quân đội mui trần, Ông ngồi xe đầu bên cạnh tướng Trưởng, Tư Lệnh QK1. Xe thứ 2 là Lữ Đoàn trưởng Thiết Kỵ và Bộ Tham Mưu Quân Đoàn. Xe thứ 3 có tướng Đặng Văn Quang, ông Hoàng Đức Nhã và vài sỹ quan tham mưu. Các toán truyền tin , cận vệ chất trên những chiếc Jeep sau. Suốt lúc đi cũng như khi về, pháo và hỏa tiễn địch rơi dọc hai bên đường khi xa lúc gần ở cả phía trước và phía sau đoàn xe. Lúc đó thì bom đạn tránh người và bà gọi ai người ấy thưa! Biết đâu mà né trốn? Đó là Chiến Trường Trị Thiện Vùng Dậy.

Rồi ngày 7/7/72, Tổng Thổng Thiệu và Đại Tướng Viên với 2 trực thăng bất chợt nhào vào Bình Long Anh Dũng thăm chiến sĩ mặt trận An Lộc khi tiểu khu này còn đang mịt mù khói lửa.
Xin trích 1 đoạn bài viết của CÙI 12 TBX: viết trên đặc san trường VBĐL:

“TT Thiệu tới trước Đài Chiền Sĩ Trận Vong của Biệt kích 81 quỳ xuống tưởng niệm. Khi đứng dậy, ông rút khăn mùi-xoa lau mắt đỏ hoe. Ông chỉ thị cho Đại Tướng Cao Văn Viên: “Bộ TTM xét trình thăng thưởng đặc cách mỗi nguòi 1 cấp và thiết lập loại huy chương đặc biệt, đặt tên là “Bình Long Anh Dũng”, ân thưởng cho những quân nhân đã dự chiến trường tại An Lộc.
Trọng pháo vẫn nổ ì ầm, khi xa lúc gần. Nhưng khi ông Thiệu vừa dứt tiếng, bỗng pháo địch rơi ào ạt quanh khu Bắc An-Lộc, có trái rớt cách phái đoàn vài trăm thước đất cát tung mờ mịt. Từ TT Thiệu, tới các tướng tá và cả ông Bí Thư dân sự Nhã không một ai hoảng sợ nằm xuống hay chạy nấp sau các bao cát. Trái lại mấy người cùng cười vang khi TT Thiệu quay qua nói với tướng Pháp Vanuxem: “Nó lại pháo nữa như mọi ngày, cả hơn 3 tháng rồi. Chắc nó biết tôi đến hôm nay nên nó đón chào tôi đấy!

Tại chỗ Vòm Chợ, có một số đồng bào và anh em quân sĩ đứng ngồi rải rác xung quanh chờ đợi. TT Thiệu tới, đứng trên chiến xa giữa cả đống chiến xa địch đã bị bắn cháy.Ông nói rất hay, hùng hồn lưu loát. Ông khen quân dân An Lộc không chịu khuất phục bọn CS ác ôn. An Lộc rất xứng đáng là Bình Long Anh Dũng cũng như KonTum Kiêu Hùng. Đặc biệt ông khen các đơn vị Địa Phương Quân cũng như Nghĩa Quân của Tiểu Khu Bình Long không tiếc lời vì họ chiến đấu dũng cảm không thua sút đơn vị chính quy.
Cùng với đơn vị phòng thủ, ĐPQ/NQ cũng bắn hạ các chiến xa đủ loại của địch, từ thiết vận xa PT76, chiến xa phòng không ZSU 57/2 và ngay cả chiến xa số 1 của Nga viện trợ cho CSBV, chiếc T 54 nổi tiếng khắp thế giới, cũng bị anh em ĐPQ bắn cháy !
Ông còn nói thêm:”Đồng bào đừng quên, tướng Hưng và Đại Tá Nhựt cùng các chiến sĩ giữ vững An lộc tới
giờ phút này là nhờ toàn dân hậu thuẫn, sát cánh với các chiến sĩ. Vậy đây là thành tích chung của Quân Dân An Lôc.”
Chỉ ít ngày sau chuyến vào An lộc của TT Thiệu, 1 trực thăng HK, thả tướng Tallman và phái đoàn rồi vút lên rất nhanh. Bắc Quân vẫn còn phục sẵn ở Đồi Gió, dùng sung không giật 75 ly bắn vào bãi đáp. Trực thăng thoát, nhưng tướng Tallman và một số sĩ quan Mỹ chết tại chỗ.” (4).

7- Quyết liệt bảo vệ Đất Nước
Miền Nam mất đã hơn 30 năm. Đọc các lời tuyên bố, bài báo và hồi ký của yếu nhân Mỹ: ÔÔ Nixon, Kissinger, Johnson, Ford, hay những bài viết trung thực mới đây của tiến sỹ Lewis Sorley (5), họ đều có nhận xét ông Thiệu đã quyết liệt tranh đấu tới phút cuối cùng cho quyền lợi của VNCH trong vụ Hòa Đàm Ba Lê. Quân Dân Miền Nam, dưới sự lãnh đạo của ông đã tin tưởng và đánh thắng CSBV nhiều trận rất oai hùng (TCK/Mậu Thân, Hạ Lào, Mùa Hè Đỏ Lửa..)

Dịch bài của Sorley xong, những giòng kết luận, cựu Trung Tá Không Quân Trần Đỗ Cung, người dịch, đã viết:
“ Trong phần dành cho Thiệu tôi thấy thương ông ta khổ tâm nhiều trong thời kỳ mười năm nắm vận mệnh quốc gia, đương đầu với Mỹ, với đe dọa đảo chính và với tình hình đa đoan của nước nhà”.
Được đọc bài phỏng vấn cựu Phụ Tá thân cận Nguyễn Văn Ngân của Trần Phong Vũ tôi càng nhìn rõ sự cô đơn của một lãnh tụ, thông minh, mưu trí nhưng sinh bất phùng thời. Và tôi càng thông cảm nỗi bất hạnh của ông để đặt câu hỏi “một người khác nắm quyền có khá hơn không hay là chúng ta lại phải trải qua một bất hạnh lớn hơn?

Ngoài ra chúng ta có thể tìm đọc thêm những tài liệu vừa đựơc Hoa kỳ cho giải mật, ví dụ cuộc thảo luận giữa Chu Ân Lai và Kissinger ngày 20/6/1972, đề cập tới sự sắp xếp của các đại cường Tư Bản và Cộng Sản quốc tế mà Mỹ & Trung Cộng, gạt Nga ra ngoài, để Mỹ và Trung Cộng giữ vai trò then chốt (6). Nhưng có một câu hỏi tới nay chưa ai trả lời rõ ràng được:

Vụ rút quân khỏi Vùng 2 và Vùng 1 Chiến Thuật?

Còn nhớ, tháng 7/2000, nhân dịp đám cưới con gái Lôi Hổ (LH) Đoàn Hữu Đ. ở VA.,một số đông anh em LH quanh vùng mà 1/3 là tù cải tạo vừa qua Mỹ đoàn tụ nghe tin Ông Bà Thiệu đến, họ tự động tới nơi tổ chức tiệc cưới; phần để chung vui với LH Đ. phần để âm thầm bảo vệ Ông bà Thiệu như khi ông Thiệu còn là Tổng thống VNCH của họ năm xưa. Bàn ông Thiệu trong tiệc cưới có nhiều tướng lãnh ngồi chung, nhưng không có Tướng Trưởng. Một trung tá, học trò Ông Thiệu, người đã thăng cấp đại úy trước tướng Trưởng 3 năm, từ Seattle qua VA mừng gia đình bạn đồng nghiệp ở bộ Dân Vận & Chiêu Hồi ngày nào nhân dịp cháu Hải V., trưởng nữ của bạn vu quy, nghe LH Đ.nói, có ÔB Thiệu ngồi bàn gần đó nên vội dẫn vợ con lại chào và thấy ông vẫn còn khỏe mạnh vui vẻ. Ai ngờ, năm sau vào ngày đám cưới Hải N., thứ nữ của LH Đ., tuy đã nhận lời, nhưng ÔB Thiệu không thể tới dự vì đúng ngày 29/9/2001, Ông Thiệu mất do biến chứng của bệnh xuất huyết trên não.

8- Tin Đồn và…có những câu hỏi !
Ngày 7/2/2007 tôi đọc 2 bài báo. Bài mới của Nguyễn kỳ Phong (NKP), và bài cũ cho đăng lại của Phạm Kim (PK), Vào cuối tháng 1/2007, tướng Trưởng tạ thế, nên dịp này họ viết nhiều về ông. Phạm Kim thuật lại khá chi tiết lúc tướng Trưởng, mặc quần áo xám của lính Hải Quân, không có cấp bậc, ngồi trên bãi bể chờ Hải Quân cứu. Ông bị bắt ngay khi về tới Saigon. Lại thêm nhiều bí mật hé lộ.
Bí mật và tin đồn thì nhiều lắm lắm. Phe Ông Kỳ dọa đảo chánh liên miên. Một ông Tướng mà ông Thiệu vừa đeo sao và bổ nhậm làm Tư Lệnh 1 đại đơn vị, sau này viết trên báo ở Hải Ngoại, tiết lộ … đã nói với ông Trưởng - bạn cùng khóa - để ông đem đơn vị đang tăng phái tại V1, về đập tan Dinh Độc Lập, nhưng ông Trưởng không thuận.

Xin bình an cho những người đã chết.
Bài của Phạm Kim đã đăng trên nhật báo NVCali và Quán Văn từ 4/2005, và Phạm Kim nói với người viết ngày 12/2/07, Đô Đốc Chung Tấn Cang xác nhận là PK viết đúng sự thực mặc dù vị tướng HQ này là một người tu xuất bên đạo CG và rất ít nói.
Nhiều quân nhân VNCH bị chết thảm vì phi cơ của ta oanh kích “lầm” (?) trên chiến hạm HQ 404 - nơi mà Saigon biết …như là có tướng Trưởng ở trên tầu này. Một trong những người chết là Trung Úy Nguyễn Độ, người Bắc, bạn của Phạm Kim. Phạm Kim, cựu SQ Báo Chí của Hải Quân trước 1975, một ký giả chuyên nghiệp yêu nghề và rất thành đạt trong báo giới, cũng là người hơn 15 năm trước giới thiệu nhà thơ trẻ Trần Mộng Tú, và đúng như sự kỳ vọng của anh, Trần Mộng Tú là một nữ thi sĩ nổi danh khắp thế giới sau đó, và có đông độc giả ở VN hiện nay.
Phạm Kim còn nhấn mạnh, chính vị Tư Lệnh HQ cuối cùng do Đại tướng Dương Văn Minh chỉ định, Đại Tá Nguyễn Văn Tấn, một trong những người tù lâu năm nhất trong Trại Cải Tạo của CS, cũng xác nhận bài viết của PK trung thực.

Lại xin bình an cho những người đã chết
Lịch sử sau này sẽ có nhiều việc, rất nhiều viêc phải làm cho rõ trắng đen. Cấp chỉ huy nào đã ra lệnh cho chuẩn tướng Chức để ông dám sẵng giọng hỏi trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn I: “Ai cho anh về?” (7) Tướng Trần Văn Đôn tân Tổng Trưởng Quốc Phòng, hay ông Thiệu?

Nhưng trong bài mới nhất viết về tướng Trưởng, ông đã trả lời sau khi Nguyễn Kỳ Phong (sử gia trẻ và rất nổi tiếng hiện nay vì sách và những bài báo đứng đắn vài năm gần đây về chiến sử tại Nam VN của ông), gặng hỏi ông nhiều lần, v/v rút quân khỏi V1:

“ Tướng bại trận thì không thể nói mình anh dũng. Bậc trí sĩ, đại phu, khi để mất nước không thể nói mình có mưu lược.”(8)

Có thể qua câu nói này, với tuổi đời ngày một già, và đọc thêm nhiều tài liệu đã giải mật, ông Trưởng phần nào hiểu được tại sao có vụ thảm bại Tháng Tư Đen. Và đặt địa vị ông vào chỗ ông Thiệu, ông sẽ làm như thế nào? Có khá hơn chăng? Có giữ được Miền Nam chăng, dù rút hay không rút khỏi 2 VCT (I và II)?

Gác bỏ ra ngoài mọi nghi vấn, tôi vẫn nghĩ: ông Trưởng là một dũng tướng rất đáng kính phục của binh chủng Dù chúng tôi. Hơn nữa, ông là vị tướng thanh liêm, ăn ở tròn trịa. Cùng 3 sao, nhưng Tư Lệnh Quân Khu Ngô Quang Trưởng vẫn ra tận sân bay nghiêm chỉnh chào đón Tư lệnh Sư đoàn Dù, xếp cũ của mình, mỗi lầnTrung tướng Dư Quốc Đống tới Vùng 1/CT.

Hơn nữa tình hình đâu đã quá bi đát??
Cổ Thành Quảng Trị còn lấy lại đuọc, huống hồ giữ Huế dù gay cấn cho lắm thì cũng chỉ như hồi Mậu Thân 1968 là cùng! Nhưng lệnh từ Dinh Độc Lập, rồi từ Tổng Tham Mưu …nhiều lệnh và cấp bách quá. Chuyện quốc gia, người nào cũng rối như tơ vò và mấy ai hiểu cho lòng tướng biên thùy lúc này ?

“…Lệnh sáng: giữ, lệnh chiều: bỏ Huế
Bao chiến công cũng thế mà thôi
Tro thiêu rải bốn phương trời
Hạt tro nào …dạt vào nơi Cổ Thành”
(nhất tuấn /TCM)

Và …nơi quê người, mặc dù tướng Trưởng bị TT Thiệu phạt, ông vẫn đích thân lên Boston dự lễ an táng của TT Thiệu, khác với nhiều tướng lãnh, tổng trưởng, đại sứ …trước đây nhận ngập ơn mưa móc; nay nghĩa tử là nghĩa tận, lại viện cớ không tới dù ở cách thành phố Boston chẳng bao xa. Mấy ông tai to mặt lớn này thua tướng Trưởng, và các anh Mạch Văn T., Lưu Vĩnh L. K12 chúng tôi rất xa!

Nhiều lần ông Nhã tâm sự với người viết, những ngày hòa đàm Hiệp Định Balê, đôi khi thật tột cùng cô đơn, vì với bao nhiêu tướng lãnh bộ trưởng trong phòng họp ở Dinh Độc lập, nhìn quanh…không còn một ai là dám cãi lại Đồng Minh dù thấy rõ là họ đang ép mình tới nghẹt thở, và nước sắp mất tới nơi. Chỉ có TT Thiệu và ông Bí Thư Nhã, hai người dân Phan Rang, nhất định chống kỳ cùng để “còn nước còn tát’, chịu chung trách nhiệm với quân dân đang ngày đêm chống giặc thù từ tuyến đầu lửa đạn.
Khi tính mạng bị đe dọa sỗ sàng kín, hở, ông Nhã đã nói thẳng với viên đại tướng da trắng tóc hung đó: “-Các ông ám sát chúng tôi là cùng chứ gì!” (9).

Trong một buổi chiều trung tuần tháng 10/1972, khi ông Kissinger sang Saigòn để ép TT Thiệu ký hiệp định Ba Lê mà ông ta (Kissinger) đã kết thúc với Bắc Việt trước đó vài ngày, nhưng Đại sứ Bunker và phái đoàn của Kissinger phải ngồi chờ hơn nửa giờ mới được DĐL tiếp, tiếp một cách rất miễn cưỡng, và Kissinger về tay trắng, bẽ bàng vì không giữ được lời hứa trước chắc chắn hòa đàm Ba Lê sẽ được ký ngày đó… tháng đó... Và ngay lập tức HTTT/VN chúng tôi ….mấy ngày liên tiếp… đã đả kích đích danh “cố vấn” Kissinger cùng Thượng nghị sĩ McGovern (ứng cử viên TT của đảng DC, vua phản chiến và gọi Saigon/VN là ổ điếm) và nói thẳng, giải pháp của Mỹ trong hòa đàm ở Ba Lê đã ép VNCH và làm lợi cho CSBV quá nhiều.

Mới đây, các nhà viết sử đã nghiên cứu viết lại cho thật chính xác về:
* Lê Ngọa Triều,
* « Ngụy Tây Sơn »,
* « Việt Gian theo Pháp Nguyễn Thân » khi tiễu loạn Cần Vương, đào mả cụ Phan Đình Phùng, thiêu ra tro, trộn với thuốc súng bắn khắp 4 phương (10).

9- Lịch Sử sẽ xét lại hết
Xin hãy để lịch sử xét công và tội của TT Nguyễn Văn Thiệu. Khi ông chết, các Sỹ Quan K12 trên Miền Tây Bắc Hoa Kỳ chúng tôi vẫn tổ chức lễ truy điệu ông rất trang trọng, do Thượng Tọa Trụ Trì Chùa Phật Giáo VN chủ lễ, dù có sự chống đối đả kích ở địa phương. Là khóa đầu tiên của nền Cộng Hòa, chúng tôi có nhiều người khi ra trường được tuyển chọn làm Sỹ quan tùy viên của TT Ngô đình Diệm, như các anh Lê công Hoàn, Nguyễn Cửu Đắc, Đỗ Thọ. Khóa 12 cũng có nhiều người đảm trách các chức vụ dân cử, công cử, tiểu khu trưởng. Chúng tôi cũng có nhiều anh mang cấp đại tá ; có vị lên tướng, như anh hùng An-Lộc, Chuẩn tướng Mạch Văn Trường, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 BB.

Ra trường tôi không làm việc trực tiếp dưới quyền ông Thiệu. Mang cấp đại úy từ 10/1960, cấp bậc Thiếu tá do Niên Trưởng Vũ Đức V. (K1VBNĐ) đề nghị vì thấy tôi đeo 3 mai vàng cùng với ông, nay ông đeo 2 mai bạc là Tổng Giám Đốc Cục VTTT, tôi coi đài PT Nha Trang vẫn còn ở cấp đại úy. Còn thăng cấp Trung Tá đầu năm 1972 không phải do Bộ Thông Tin đề nghị mà theo danh sách thăng thưởng thường niên tự động nếu đủ tiêu chuẩn của BTTM/TQT.

Tuy chỉ là một cấp chỉ huy điều hành các cơ quan thừa hành trong chính phủ, nhưng hàng ngày nghe tường thuật của các phóng viên khi họ ra tiền tuyến làm phóng sự chiến trường hoặc theo cấp lãnh đạo vào Trị thiên, Kontum, An Lộc (11);và trên hết, vì được làm gần cấp lãnh đạo trong giờ phút nghiêm trọng của Đất Nước, tôi mới cảm nhận thấy hết được sự phẫn hận đau đớn tủi nhục tột cùng của nguời dân một nước VN nhược tiểu.Cũng vì thế tôi càng thêm kính phục Tổng Thống Thiệu cùng ông Nhã về tinh thần yêu nước của hai người. Họ không sợ đảo chánh, ám sát, dù rất cô đơn mà vẫn quyết một lòng tranh đấu cho Quê Hương. Còn ai làm hơn họ lúc đó?

Dù bài viết này có thể không vừa ý nhiều người, nhưng tôi không thể ngậm tăm mãi!! Tôi muốn nói rõ ra sự can đảm của những cấp chỉ huy đáng kính của tôi vì tôi biết họ chịu muôn áp lực từng giờ phút, mà vẫn xả thân lo việc nước.. Cá nhân tôi, tới bây giờ vẫn kính trọng vị cựu Chỉ Huy Trưởng, Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu, như thời gian tôi và các bạn K12, khóa đầu tiên của nền Cộng Hòa (12), khi mái tóc còn xanh, mộng đời còn đầy ắp, hăm hở xin nhập học trường VBLQĐL hơn nửa thế kỷ trước.

Ngay cuối thập niên (19)40 và giữa thập niên (19)50 ông Thiệu đã được cử du học ở Pháp (khóa Sỹ Quan BB) và Hoa Kỳ, khóa dành cho sỹ quan cao cấp, học về nghệ thuật quân sự và phương cách lãnh đạo chỉ huy cấp sư đoàn cùng sự điều động cấp quân đoàn trong các cuộc hành quân phối hợp. Đặc biệt tại Fort Leavenworth, Kansas, Khóa dậy Nghệ Thuật Chỉ Huy và Lãnh Đạo, chính các sỹ quan Khóa Sinh Mỹ than là lớp học rất khó, có nhiều người phải tự tử. Niên Truởng Thiếu tướng Trần Quang K., khóa 6/VBDL, là khóa sinh của trường này, cũng xác nhận với tôi đó là sự thật qua lá thư của Tổng thống Eishenhower cựu khóa sinh, đã than phiền « khóa học hết sức căng thẳng, thời gian quá dài »… Lá thư này hiện nay còn đóng khung treo tại Nhà trường.

Là con người, hẳn ông Thiệu cũng có nhiều lỗi lầm trong binh nghiệp cũng như nơi chính trường. Có nhiều câu hỏi như trên tôi đã viết, lịch sử cần phải làm cho sáng tỏ. Và thêm vài điều như :

- Năm 1972-1974, mình đánh bao nhiêu trận hào hùng , tinh thần Dân Quân Cán Chính lên như diều dù lúc đó Bắc Quân đã vượt Bến Hải đánh khắp mọi nơi vô cùng nguy ngập mà vẫn giữ được nước. Qua năm 1975 chưa đánh trận nào đã mất ½ lãnh thổ và 2 Quân Đoàn (13); và “tại sao Miền Nam VN với một quân đội được trang bị đầy đủ va` thiện chiến như vậy, chỉ trong 40 ngày đã biến mất?” (14)

- Tại sao những dũng tướng của QL/VNCH, ngoài tướng Trưởng, ví dụ 1 ông tướng trước khi về đảm nhận trách vụ tư lệnh 1 đại đơn vị, đã từng nổi danh là Tư lệnh Lữ đoàn Ưu Tú nhất trong tứ trụ: Lịch, Nam, Lưỡng, Trưởng, rất dạn dầy chinh chiến của SĐ Nhẩy Dù; nếu bỏ tù ông vì liên hệ tới các vụ buôn lậu, tại sao một vị trung tướng khác và “mấy bà lớn nổi tiếng với những áp phe kinh người” mà dư luận chú ý tới nhiều hơn ….vẫn bình chân như vại?

- Cả việc bắt giữ Dân biểu Trần Ngọc Châu (xin coi E nơi cuối bài)̣, BS Trần Kim Tuyến và LS Nguyễn văn Chức cũng có rất nhiều dị nghị.Hẳn có nhiều uẩn khúc phức tạp mà chỉ có giới chức Tư Pháp cao cấp mới có thể hiểu rõ được chăng ?? Và cũng quan trọng hơn hết, thực sự công tội ông ra sao? Ông tháu cáy với Mỹ ??

Tuy không là sử gia, nhưng tôi có thể nói ngay điều này: chắc chắn chính Tổng Thống Thiệu là người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất vì để mất Miền Nam! Nhưng tôi tin ông không bán nước cầu vinh. Và tôi cũng không tin ông thấy Miền Nam Tự Do sắp mất, mà sợ hãi, lo giữ lấy thân, cắm đầu nhắm mắt tuân theo lệnh ngoại bang; hoặc diễn trò ma giáo” nhận dollars của Mỹ còn chống Mỹ giả vờ ! » như luận điệu của các phần tử chống đối ông đã ác ý xuyên tạc.

Chê trách thì nhiều lắm lắm và ai cũng nói được; nhưng, như GS Nguyễn Ngọc Linh trong bài gần đây nhất, sau khi thống trách các nhà lãnh đạo Đệ II VNCH về thảm nạn Tháng Tư Đen:
- người ra lệnh vội rút quân rồi chạy thoát thân;
- người không biết xoay sở nên đã lấy quyết định bất hợp pháp;
- kẻ chưa bao giờ được dân cử dù là chức xã trưởng, mà lúc đó cũng tranh đòi điều khiển quốc gia …

cuối cùng tác giả Râu Cáo dịu giọng :

- Trách là trách đấy thôi , chứ đến 10 ông Thiệu, ông Hương, ông Minh cũng không làm sao cứu vãn được tình thế một khi Mỹ đã nhất quyết cắt hết viện trợ quân sự khiến vào những ngày cuối cùng của chiến tranh, mỗi người lính chỉ còn được phát mỗi ngày có mấy viên đạn và một trái lựu đạn mà thôi. (15)

Và thành thật mà nói, trong hoàn cảnh này, liệu ai có phép thần thông để giữ được Miền Nam? Hay “một người khác nắm quyền có khá hơn không hay là chúng ta lại phải trải qua một bất hạnh lớn hơn ”? như dịch giả Trần Đỗ Cung đã viết ở trên.

Các vị này đã có lý khi nêu những nhận xét khách quan trên, vì trong cùng số báo Ngày Nạy 594, mục thường xuyên, cũng có bài bác sĩ Việt Nguyên viết căn cứ theo cuốn sách “Nixon and Mao“của bà Magaret Macmillan, một sử gia Gia Nã Đại, cho thấy những bí mật tình báo bất ngờ tới nay mới được khám phá:
“Chánh phủ Trung Quốc đã trợ giúp cho Bắc Việt lên đến 20 tỷ Mỹ kim từ năm 1950 tới 1975 khi Saigon sụp đổ. Trung quốc gửi hàng trăm ngàn súng đạn, quân cụ, quân trang, quân dụng, mùng chống muỗi; tổng cộng 320, 000 quân vào cuối thập niên 1960. Trung quốc xây cầu đường nhưng đồng thời xử dụng điều khiển đại pháo chống phi cơ và hỏa tiễn phòng không.
Sự hiện diện của lính Trung Cộng giúp Bắc Việt rảnh tay đánh lại VNCH và Hoa Kỳ” (16)

Ngay từ 1955, không phải lệnh nào của Mỹ cũng phải tuân theo vì Trung Tá Nguyễn văn Thiệu đã bênh vực tôi khi xảy ra sự lộn xộn giữa tôi và viên giáo sư Mỹ, dậy Anh Ngữ trong trường rồi ông này vu cáo tôi, đòi đeo súng cũng như phải có người theo bảo vệ mỗi khi tới trường VBDL vì nếu không SVSQ Phạm Hậu sẽ giết ông ta.

Gần đây, Niên Trưởng Ngô văn N., học trước tôi nhiều lớp ở Chu Văn An Hanoi, cựu y sỹ Liên Đoàn Nhẩy Dù VN, đã khen ông Thiệu, khi nhớ lại lúc bên Hành Pháp mời 10 người, trong đó có Ông N. vào dự dạ tiệc tại Dinh Độc Lập. Số người này thuộc bên Lập Pháp (Quốc Hội Lập Hiến) dù đã nhiều lần được phía quân đội khéo léo dò hỏi rồi thuyết phục, họ vẫn không dứt khoát thuộc phe Thuận hay Không Thuận trong số phiếu quyết định cuối cùng để cho liên danh Thiệu Kỳ đắc cử hợp pháp. Trái với dự đoán của mọi người, không có vụ đe dọa, hay mua chuộc bằng chức vụ, cho các ghế đại sứ, bộ trưởng….
Vào điểm chính, sau bữa ăn, khi gần tiễn khách, ông Thiệu nói với mọi người, đại ý:
- Việc Nước là việc Chung. Thế cờ đã như thế, các anh OK thì cùng làm, bằng không thì chúng ta xóa bài làm lại!
-
Từ truớc 1970 cho tới nay, lời dặn dò của TT Thiệu đôi khi như văng vẳng bên tai: “Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm !» . Tới bây giờ câu nói này vẫn còn rất đúng!! Và ngay đầu năm 1974, dù biết Đồng Minh không yểm trợ chúng ta, nhưng trong trận hải chiến Hoàng Sa ,TT Thiệu đã chỉ thị rõ ràng cho HQVN: "Chúng ta không để mất một tấc đất nào cả!” (17)

10- Cái Quan Định Luận
Làm người thật khó. Người lãnh đạo một nước còn khó hơn gấp bội!!
Đọc Sử VN cận đại, anh hùng Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh, chết rồi còn bị quật mồ, phân thây, đầu lâu là bình nước tiểu mỗi ngày cho người thắng trận. Cận thần nam nữ danh tướng của mình thì bị voi dầy ngựa xé và mấy trăm năm sau chính sử nhà Nguyễn vẫn gọi triều đại Tây Sơn là Ngụy Tây.
Tổng thống một cường quốc bên kia Thái Bình Dương của VN, hai anh em lần lượt cùng bị bắn chết trong mùa tranh cử. Người chết có thể lờ mờ đoán được ai là kẻ thù, nhưng chính hung thủ còn sống cũng không sao hiểu được, phút chót lệnh tới, họ phải bấm cò nhả những viên đạn oan nghiêt vào mặt vào ngực những người rất đáng kính trọng này.

Còn TT Ngô đình Diệm?
Phe CS chôn sống anh và cháu ông năm 1945. Gần 20 năm sau, tới luợt 3 anh em ông bị đâm, bắn trên Thiết vận xa, bị xử bắn bởi lệnh các tướng lãnh của VNCH, quốc gia Miền Nam Tự Do mà chính ông thành lập nên gần 10 năm trước đó!

Và TT Nguyễn Văn Thiệu?
Không bị giết chết, nhưng cũng quá tệ!! Lính VNCH đập phá mồ mả, đốt nhà cửa xóm làng ông, viết trên mộ trên tường những lời chửi bới tàn độc. Rồi suốt bao năm nơi viễn xứ lưu đầy, ông nhận chịu bao nguyền rủa, thù hận của thuyền nhân, của tù cải tạo, của cô nhi tử sĩ …qua các cơ quan truyền thông, trút hết cho ông chỉ vì 4 chữ «TỘI QUY VU TRƯỞNG ».
Tám năm làm Tổng Thống, chẳng biết quyền rơm vạ đá ra sao, chỉ thấy ông phải chịu hơn 30 năm ngậm hờn cho tới lúc chết.

Tôi chưa từng nghe 1 bạn nào cùng Khóa 12 nặng lời chê trách Ông Thiệu bao giờ. Họ chỉ nói ông giỏi tham mưu, rất kỹ trong công việc khi ra lệnh thì kiểm soát việc thi hành lệnh từng chi tiết, và nhớ dai để…quên đeo sao cho ông này ông nọ (các đạị tá Đỗ Ngọc N., Nguyễn Quốc Q, Trần Văn C, Trịnh Xuân N, v…v ….), phòng xa tránh hậu hoạn, nhưng không đuổi tận diệt tuyệt, và người có khả năng vẫn cho làm việc tương xứng.

Với tôi và rất đông các bạn K12, ông Thiệu là một vị tướng lãnh tài giỏi, can đảm, một vị Tổng Thống Yêu Nước Thương Dân Thương Lính và, cũng như vị tiền nhiệm của ông, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã tận lực bảo vệ Miền Nam thân yêu của chúng ta.
Tiếc thay việc lớn không thành!!
Từ ngàn xưa mấy ai đem thành bại luận anh hùng ???

Lần cuối, lại Xin Bình An Cho Những Người Đã Chết .

Pham Hậu
(Tháng Tư Đen , 2007)


(1) -Một lời cám ơn rất muộn , Phạm Hậu
Nguyệt San Khởi Hành số 42, tháng 4/2000
(2) -Những kỷ niệm với ngành Phát Thanh , Phạm Hậu
Đặc San Truyền Thông Quốc Gia (TTQG) 2005
(3) -Này Kia Kia Nọ, Râu Cáo
Ngày Nay số 590, tháng 2/2007.
Râu Cáo là bút hiệu của giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, cựu Giám Đốc Nha VTTT, Tổng Giám Đốc Tổng Nha Thông Tin, và TG Đ Việt Tấn Xã . Cũng trong bài báo , GS Linh đã tóm tắt một trong những điểm chính của cuốn sách này : “cuộc đảo chính lật đổ ông Diệm vào ngày 1/11/1963, do ông Cabot Lodge đề xướng mà không có sự thỏa thuận củaTT Kennedy, theo ông Moyar, là một nhầm lẫn đưa đến thất bại của Mỹ và làm mất Miền Nam VN vào tay Cộng Sản một cách lãng nhách.”
Có thể đọc thêm sách của TS Mark Moyar: “Phoenix and the birds of Preys” : The CIA ‘s Secret Campaing to Destroy the Viet Cong, 11/1997
(4) -Ông Bush đi Bagdah, ông Thiệu vào An-Lộc, Cùi 12 TBX
Đặc San Đa Hiệu, 2001
(5) -Xác định giá trị QLVNCH, TS. Lewis Sorley
Đặc San Không Quân Bắc Cali, Xuân 2007, dịch bởi Trung tá Không Quân Trần Đỗ Cung (cựu Tổng Cục Trưởng TC Tiếp Tế) và xin đọc chi tiết đầy đủ trong website
www.kbchaingoai.net/XacDinhGiaTriQLVNCH.html.
(6) -Sự Thực Về Cái Gọi Là “Đại -Thắng Mùa Xuân”, Trần Bá Hợi, 2007.
Phần mở đầu bài dịch tài liệu của Tòa Bạch Ốc, Ông Hợi, cựu sỹ quan cao cấp của
KQVN đã viết như sau:
” Kể cả cái gọi là Đại Thắng Mùa Xuân mà tướng Dũng huyênh hoang cũng không đáng được coi là một chiến thắng vẻ vang. Đó thực ra chỉ là một kết quả tất nhiên khi Hoa Kỳ, đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa, thay đổi chính sách đối ngoại. Để tái lập bang giao với Trung Cộng hầu khai thác thị trường to lớn trong lục địa, ngoài việc không muốn tiêu diệt hoặc đánh bại cộng sản Bắc Việt, Hoa Kỳ còn rút quân và bỏ ngỏ Việt Nam Cộng Hòa. Sau đó Hoa Kỳ cắt quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa trong khi cộng sản Bắc Việt được Nga và Tầu Cộng tiếp tục yểm trợ tối đa để cưỡng chiếm miền Nam. Trong hoàn cảnh thiếu thốn tận cùng về vũ khí và nhiên liệu, không riêng gì Việt Nam Cộng Hòa mà bất cứ quân lực của một quốc gia nào vào hoàn cảnh tương tự cũng phải chịu bó tay. Tương quan hỏa lực và phương tiện giữa hai phe lâm chiến quá chênh lệch.”
(http://vietnameseamericanvets.com/page-freedom)
(7) -Di Tản về Miền Tây, Phạm Kim
NgườiViệtCali 4/2005 va NVTayBac Online , 2/2007
Trung uý Pham Kim, SQ Báo Chí Hải Quân, khi đó đứng sau TLHQ Chung Tấn Cang ,lúc tướng Trưởng từ HQ 404 đáp vào Bến Bạch Đằng, trước mặt BTL/HQ , đã nghe được câu hỏi này và tới nay (13/02/2007), PK xác nhận với người viết là vẫn còn nhớ rõ.
Nhưng ngày 18/05/07 Pham Kim lại gửi thêm 1 email xin sửa 2 chi tiết nhỏ:
a-Trung tướng Trưởng mặc đồ lục quân ngồi ở bãi biển chờ tầu HQ đón. Trên tầu ông được “biếu” 1 bộ đồ xám và ngủ giường đôi (crew bunker) của đoàn viên
b-Nhiều quân nhân bị chết thảm vì phi cơ của ta (?) oanh kích “lầm” (?) trên chiến hạm HQ 404, xin sửa và thêm là:
“chẳng lẽ là HQ 404(!) –mà có thể lá một hộ tống hạm mà trên máy vô tuyến lúc báo cáo là chiến hạm loại 400.
Nhưng theo Đô Đốc HVKyThoai cho biết lúc bấy giờ quá hỗn loạn không còn là vấn đề có thể là “Hộ Tống Hạm Vạn Kiếp”- Bị trúng đạn máy bay trong giờ phút hỗn loạn không còn báo cáo được nữa”
http://www.nguoiviet-taybac.com/btl-haiquan30-4-1975.html
(8) -Nguyễn Kỳ Phong coi web site:
http://www.tqlcvn.org/tqlc/tl-tuongniem-tuong-ngt.htm
(9) -Có bạn như vậy, ai cần kẻ thù? Hoàng đức Nhã
Đặc San Không Quân Bắc Cali, Xuân 2005
(10) -Diên-Lộc Quận Công Nguyễn Thân, Nguyễn Đức Cung
Nhà xuất bản Nhật Lệ, 2002 , Kearny, NJ 0703
(11) -Nhật Ký Phóng Viên, Năm 72 ở VTVN, Nguyễn Mạnh Tiến
Đặc San Truyền Thông Quốc Gia , 2005
(12) -Trong lễ mãn khóa (12/1956) , Trung tá Nguyễn văn Thiệu, CHT/VBLQDL, xin vị chủ tọa đặt tên khóa cho các sỹ quan vừa tốt nghiệp đang quỳ dưới Vũ Đình Trường, và được TT Ngô Đình Diệm đặt tên Khóa 12 là Khóa Cộng Hòa.
(13) - Các bài rải rác trên báo Việt Ngữ ở Hải Ngoại -1976-1986- của trung tá Nguyễn Đạt Thịnh, cựu Chủ Nhiệm Tuần báo Diều Hâu và Trưởng Phòng Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến TC/CTCT trướcc 1975 (email nguyendatthinh@aol.com)
(14) - Viết Mà Chơi, “Can trường trong chiến bại”, Tú Gàn
Tuần san SàiGònNhỏ số 537, ngày 30/3/2007
(15) -Này Kia Kia Nọ, Râu Cáo. Ngày Nay số 594, ngày 15/04/2007.
Râu Cáo là bút hiệu của giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, cựu Giám Đốc Nha VTTT, Tổng Giám Đốc Tổng Nha Thông Tin, và TGĐ Việt Tấn Xã .
(16) -Từ Bàn Viết Houston, Việt Nguyên Ngày Nay số 594, ngày 15/04/2007
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=58487&z=100
(17) Can Trường Trong Chiến Bại, tái bản, 2007, Hồ Văn Kỳ Thoại,
252 N. Washington St., Suite 103, Falls Church, VA 22046
Email : thoai.hovanky@gmail.com
Điện thoại : (703) 802-0999

----------------------------------------------

“Xin Bình Yên cho những người đã chết.” đã viết xong từ cuối tháng 4/2007, nhưng vì Kỷ Yếu Võ Bị Đà Lạt (KYVBĐL) K12- 2007 không ấn hành như dự định; do đó ..bài này phải đăng phần lớn trên tờ báo SaiGon Nhỏ và trên 2 websites .
a- (Anh Ngữ) do Niên Trưởng Trần Dỗ Cung dịch posted trên website của cựu KQVN Thiếu Tá Trần Bá Hợi chủ trương:
- http://www.vietamericanvets.com/Page-PointOfViewrequiescat_in_pace.htm
b- (tiếng Việt) Viet Kieu Ai Lao NET
Nhân dịp (KYVB ĐL Khóa 12 - 2009 có thể phát hành như thư của ban đại diện K12 thông báo, chúng tôi một lần nữa … hy vọng sẽ có bài XBYCNNĐC này trên đó.
Vì thế, 31/3/2009, chúng tôi ghi thêm những tài liệu đặc biệt sau đây và sẵn sàng đăng lời đính chính của bất cứ cơ quan Mỹ Việt nào liên hệ tới các sự việc ghi trong sách, để rộng đường dư luận.

A- Các tài liệu mới được Hoa Kỳ giải mật (09/15/2008),
Tài Liệu của Tòa Bạch Ốc
về Cuộc Chiến VN chấm dứt sau 30 năm
(Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ giải mật)
THE NATIONAL SECURITY ARCHIVE
http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB121/index.htm (1)
http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB195/index.htm (2)

B- Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã trình Tổng Thống Thiệu kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa năm 1974, nhưng…
Xin đọc bài của cựu trung tá pháo binh Nguyễn Văn Tý, Khóa 5 Thủ Đức trên đặc san Pháo Binh 2009. Có thể liên lạc với Ban Biên Tập
Mr. Lê Văn Trang:
9200 Westminster Ave. # SPC 35
Westminster, CA 92683-4775
Đ T : (714) 899-8190

C. và cuốn sách của Trung Tá Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ , Daniel Marvin (đặc biệt trang 292). EXPENDABLE ELITE, USA, 2003
cùng bài báo của cựu Thiếu Tá Trần Văn Ngà phổ biến ngày 22/12/2008.
Ông Ngà, căn cứ vào báo chí Hải Ngoại và sách của ông Daniel Marvin, về vụ CIA , cùng báo chí Hoa Kỳ bịa đặt tướng Đặng Văn Quang buôn lậu ma túy. Thực ra lý do chính chỉ vì ông Quang chống không cho quân đội Đồng Minh tràn vào Miền Tây của Quân Đoàn IV, và chút xíu CIA đã thành công trong việc xử dụng một Trung Đoàn BB của QLVNCH đánh vào Khu Vực Hòa Hảo Miền Tây. Và mặc dù bị áp lực rất mạnh, TT Thiệu vẫn bảo vệ ông Quang vì vừa là bạn cùng Khóa 1 VB Huế, vừa biết thành tích chiến đấu sáng chói của vị Tư Lệnh Q Đ IV này.
Cần kiểm chứng, hay muốn hỏi thêm hoặc muốn có bài đọc này …xin liên lạc:
Trần Văn Ngà (cựu Thiếu Tá - Khóa 13 Thủ Đức)
Cựu Trưởng BanThông Tin Báo Chí QĐ4 & V4CT
Email: tranvannga@hotmail.com.

D- Quyển sách của John Perkins:
Confessions of a Economic Hit Man, 2004, USA
(Lời Thú Tội Của Một Sát Thủ Kinh Tế)
www.JohnPerkins.org
Qua quyển sách này, độc giả thấy từ mấy chục năm qua, Hoa Kỳ, qua nhiều cơ quan tài chính kinh tế đã lũng đoạn các quốc gia đồng minh một cách quỷ quyệt thần sầu. Họ viện trợ đấy mà thật ra là cho vay nợ lãi cắt cổ…để người vay nợ không bao giờ có thể trả hết nợ và luôn luôn là kẻ chịu ơn. Với sự khuynh loát của tài phiệt Hoa Kỳ, ngay cả những quốc gia đồng minh nào muốn tự lực sinh tồn, phát triển họ cũng ngăn chặn tối đa. Đó là trường hợp Kế Hoạch Khu Trù Mật, Ấp Chiến Lược thời Đệ Nhất VNCH và Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội thời Đệ Nhị VNCH.
Cố vấn Ngô Đình Nhu chết oan, tướng Nguyễn Văn Vỹ, tổng trưởng Quốc Phòng bị
giải nhiệm tai tiếng dù các cộng sự viên ở Bộ Quốc Phòng đều biết ông là vị tướng lãnh rất thanh liêm và tận lực làm việc cho Quân Đội, cho Quốc Gia.
Hai quyển sách của John Perkins và Daniel Marvin đều có thể mượn rất dễ dàng ngay tại các thư viện công cộng ở thành phố.

E- Vụ Án Trần Ngọc Châu, (VATNC) 2009, Viet Book USA
Liên lạc 14841 Moran Street, điện thoại : (714) 894-2500.

Quý vị rất nên tìm đọc quyển sách này để biết thêm chuyện chính giới Mỹ với 3 đầu 6 tay mà những cái đầu cái tay này cứ …đánh lộn nhau khi hoạch định chính sách tại Việt Nam suốt từ 1954-1975. Độc giả sẽ biết thêm nhiều chi tiết về tình bạn rất thân giữa TT Thiệu cùng dân biểu Trần Ngọc Châu, người Khóa 1 SQ Huế (1949, còn là của Quân Đội Pháp) , người Khóa 3 Sỹ Quan VB Liên Quân Đalat ( tức khóa 1 Sỹ Quan của Quân Đội Quốc Gia VN).
Là bạn rất thân vì cùng là Sỹ quan huấn luyện viên trong trường VBLQĐL, dậy các khóa 4, 5, 6 VBDL, hai gia đình có 1 năm sống chung trong ngôi biệt thự thơ mộng nhìn xuống hồ St. Benoit.
Rồi chỉ vì mâu thuẫn chính trị, ai cũng nghĩ mình phục vụ tổ quốc đúng nhất để chiến thắng CSBV, hai người bỗng là tử thù… vào năm 1970. Tổng Thống Thiệu bỏ tù Tổng Thư Ký Hạ Viện Trần Ngọc Châu dù Tối Cao Pháp Viện tuyên bố bản án này vi hiến !!!

Nơi xứ người, 1991, những kẻ THUA cùng tìm tới nhau, trắng nhiều đêm tâm sự … và ôm nhau ngậm ngùi khóc cho Dân Quân Cán Chính với tột cùng đớn đau tủi hận của người dân nước nhược tiểu. Người viết bài này xin chân thành cám ơn NNSKC đã gửi quyển sách VATNC để bổ túc kịp thời.

< Được sửa bởi: hodinhvu lúc 1/4/2010 1:35:56 AM >

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 173
RE: Truyện Chúng Mình - Nhất Tuấn - 1/4/2010 1:24:32 AM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

CHIA BUỒN




Được tin buồn, CU. NGUYE^~N HOC HA?I, PHONG NGOAI NGU*~, DDAI PHAT THANH SAI GON vua ta the ngay 27/10/2009, huong tho 93 tuoi. Le an tang da cu hanh tai Montreal, Canada.

Trong Tang Le dau don nay, chung toi thanh that chia buon cung Ba Nguyen Hoc Hai va Tang Quyen . Nguyen Xin Phat To Dai Tu Dai Bi don Huong Linh
nguoi qua co som ve CO~I NIE^'T BA`N.

VO CUNG THUONG TIEC THANH KINH PHAN UU

Nguyen Ngoc Linh, Pham Hau, Phan Huu Tri va
Cac ban dong nghiep thuoc Dai Phat Thanh SaiGon & Nha VTTT

< Được sửa bởi: hodinhvu lúc 1/4/2010 1:36:59 AM >

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 174
RE: Truyện Chúng Mình - Nhất Tuấn - 1/10/2010 3:45:35 AM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

Tin Rat Vui Dau Nam 2010 cua nhat tuan gui doc gia TCM va cac ban tre tren Pho Xua :

Co nguoi ba.n ... anh Ho Dinh Vu gui cho toi cac bai duoi day, gom nhung bai phe binh tu xa xua...nay toi xin post len de quy vi yeu tho Truyen Chung Minh cung doc.
Ngoai ra, thi si Nguyen Manh Trinh cung vua cho hay, than hu*~u anh o Viet Nam co suu tam duoc 5 tap TCM kho nho in tu 1958-1959... anh ay se gui cho nhat tuan trong tuan toi.

Cung bat mi them Nguyen Manh Trinh tu lau la mot nha tho, hien cong tac voi "To Hop Truyen Tong Little Saigon Radio va TUAN BAO Viet Tides cu~ng nhu* co so Truyen Hinh Hon Viet. Anh la nguoi viet ve tho Nhat Tuan -- Tho Nhac Giang Sinh 2009--va bai nay cung luc in tren Viet Tides con phat tren Radio va pho bien tren Truyen Hinh Hon Viet moi day.

Se thu thap tat ca de co the, xin phep Ban chu truong Pho Xua de post len Goc Pho danh cho Nhat Tuan, hau quy vi doc gia va cac ban Pho Xua cung doc.

ntuan
(09/01/2010)

----------------------------------------------------------------------------------------------------
CAC BAI PHE BINH TRUYEN CHUNG MINH THAP NIEN 1960 cua Do Tan , Thai Thuy, Mac Thu, Tham the Ha va Dinh Hung



đọc truyện chúng mình
bài của Đỗ-Tấn
Hồi cuối năm qua, có một người cầm súng in thơ: NHẤT-TUẤN với TRUYỆN CHÚNG MÌNH. In thơ thì mới lần đầu nhưng làm thơ và đăng thơ trên các báo thì đã lâu, lâu lắm. Theo tôi được biết và anh Thanh-Nam cũng đã xác nhận trong bài tựa thì từ năm 1952, người ta đã thấy tên Nhất-Tuấn trên các báo Quê-Hương, Thẩm-Mỹ, Phụng-Sự, Chiến_Sĩ Cộng-Hòa, Văn-Nghệ Tiền-Phong... Nói như vậy không có nghĩa là nói người thơ đã già tuổi rồi đâu, Nhớ lần gặp anh đầu tiên năm ngoái ở Nha - Trang, tôi thấy Nhất - Tuấn bằng xương bằng thịt còn trẻ hơn Nhất - Tuấn trong tưởng tượng của tôi nhiều. Vừa trẻ, vừa tếu; vừa dễ thương, khác hẳn với con người thơ mà tôi hằng tưởng nghĩ.
Cách đây mấy năm, lúc tôi chưa được đọc nhiều những báo chí phát-hành trong Quân-Đội, hằng tuần phải đọc những vần thơ u-buồn và đầy thất vọng của Nhất-Tuấn trên các tuần báo ở ngoài, thú thật tôi không có điều gì để hy vọng ở nhà thơ trẻ tuổi này. Nhưng rồi sau, được đọc một số thơ của Nhất-Tuấn đăng trên một vài tờ báo Quân-Đội, tôi thấy trong những bài thơ và trong thái-độ làm thơ của anh có khác nhiều thay đổi, tự dưng tôi cảm thấy mến anh ta. Nếu cần phải trình bày một hình ảnh để nói về trường hợp của Nhất-Tuấn, tôi có thể nói đó là một con suối nhỏ èo uột len lách qua những rừng cây nội cỏ một cách khiêm-tốn và rụt rè. Không phải là suối nhỏ không có cảnh đẹp và không có "gào thét" lên cái cảnh bơ vơ trơ trọi cùa mình để cho khách nhàn-du lưu ý, nhưng tiếnf "gào thét" của suối nhỏ cũng chỉ là tiếng thở dài mong manh, vắng thoáng rồi tan đi cũng như bọt nước của suối văng tung lên vậy. Nhưng rồi suối bắt gặp một triều thác lớn, hòa hợp với những suối con khác dậy tấu lên một khúc hoan-ca vĩ-đại; khúc hoan-ca tạo lên niềm vui, sự phấn khởi, nỗi quang lực trong lòng những khách đang hăm hở xông-xáo trên đường chiến-đấu cho một lý-tưởng cao đẹp. Không cần biết suối đã làm nên công-tích gì trong khúc nhạc hùng vĩ kia, nhưng người ta vẫn thấy suối có quyền hãnh diện vì sự góp công góp sức của mình trong việc tạo nên một bản hùng ca.
Mà phải những vần thơ tình đầy u buồn, sầu đau của NHẤT-TUẤN trước khi không có điểm gì đặc biệt cho cam! Có lần anht thuật chuyện hai Người kéo nhau vào nhà thờ, chung dâng lời cầu nguyện, nhưng sau rồi người ta bỏ anh. Một lần khác:
...Chiều mưa hai đứa rủ đi xa.
Đến gian quán nhỏ dìu nhau lại.
-- Trời đất này riêng.... một chúng ta!
nhưng rồi người ta vẫn bỏ anh. Có lần, lần này thì mình anh vào nhà thờ.
Có quỳ lạy Chúa trên trời,
Để cho con lấy được người con yêu.
nhưng:
Người ta lại bỏ con rồi,
Con quỳ lạy Chúa trên trời thương con.
Và một lần khác nữa, người yêu gởi tặng anh hai vé số. Anh chỉ hi-vọng trúng được mười ngàn để tạo một túp nhà tranh và hai đứa chung vui cuộc đời bé nhỏ; hoặc nếu không thì trúng một trăm cũng được, để anh mua một chiếc trâm tặng người yêu, nhưng mộng nhỏ chưa thành thì... Và có lần anh đưa tiễn người yêu, người yêu anh hẹn ba tháng hè trở lại; nhưng rồi ngày tháng trôi qua, anh vẫn hoài công ra ga chờ đón. Và oái-oam thay có lần hai người đang yêu, tranh nhau đặt tên con gái sau này, nhưng người yêu anh đi lấy chồng và có con gái, gửi thư đến anh, xin anh đặt giúp tên con... Dĩ nhiên là trong khi yêu và sau những lần yêu thất bại, anh chỉ còn lại những vần thơ; nhưng làm mãi những vần thơ như thế hoài người đọc cũng phát bực và phát nhàm. Và anh đi tòng quân. Và người đọc thơ tìm được con người mới trong anh.. Trước khi bực chán anh bao nhiêu, bây giờ yêu mến, gần gũi anh bấy nhiêu. Tôi nói suối gặp thác và suối đã góp phần vào bản hùng ca vĩ đại của dân tộc là thế.
Người đọc có nhiều lí do để chán hoặc để yêu thơ anh. Chán là vì đã từ lâu, cái giọng thơ yêu đương tha thiết đã kéo qua thi đàn Việt Nam quá nhiều rồi. Bây giờ, cho dù người thơ có say mê đến đâu, nếu không tìm được một thể cách phô-diễn tân-kỳ hơn, độc-đáo hơn, nếu cứ ôm mãi những thể năm chữ, bảy chữ, tám chữ, e khó lòng vượt quá được một Xuân-Diệu trẻ trung, say đắm, thiết tha thời tiền chiến, e khó lònh nhại lại cái ngây thơ, bé bỏng của một Nguyễn -Xuân-Huy, e khó theo kịp cái nhân thật, nồng nàn đến sai dại của một Tế-Hanh, và nếu có buồn nản, sầu tư và chứa chan thất vọng thì cũng khó đứng ngang với một Huy-Cận (I). Trong tạp chí Bách-Khoa số kỉ niệm 5 năm vừa rồi, Võ-Phiến cũng đã một lần nhận xét như thể khi nói về vấn đề thời-lại-tính trong văn học. Ông viết :" Nói về một sự yêu đương thôi, ở mỗi thời, sự rung động ái tình cũng có khác nhau, cho nên trước đây vài mươi năm giới thanh-niên ở ta chép thơ Xuân-Diệu, thơ Nguyễn-Bính vào vở, chứ không phải những câu Kiều của Nguyễn Du. Ngày nay không khí yêu đương lãng mạn ấy tan biến trước tình thế gay go của thế giời, trước những thắc mắc hoang mang về số phận con người, thì không phải văn thơ trước kia không còn hay nữa, nhưng nó không còn hợp nữa, quần chúng độc-giả không tìm thấy mình trong đó nên không còn say sưa, chăm chú vào nữa, mà lại ngẩng đầu lên ngoảnh tìm mong đợi thứ vần thơ của mình, có mình trong đó". Bởi vậy, trong suốt tập TRUYỆN CHÚNG MÌNH với 29 bài thơ chia làm hai phần, người đọc dù có dễ-dãi đến đâu, cũng sẽ lưu ý nhiều đến 14 bài thơ sau hơn là 15 bài trước. Vì sao? Vì trong những bài thơ ở phần thứ hai, Nhất-Tuấn đã nói đến TRUYỆN BÂY GIỜ chuyện của những chàng trai trẻ đang sống hoặc sắp sống cuộc đời quân ngũ, hoặc nếu người đọc không phải là một chàng trai ít nhiều cũng dính-líu đến đời sống của những người quen thân hay không quen đang chiến-đấu cho mình. Và dủ là những chuyện ấy có tình cách riêng tư thì cái riêng tư ấy cũng là của thời đại, nghĩa là những chuyện rất gần với họ, họ dễ dàng thông cảm và chấp nhận hơn là những chuyện nhàm rởm, xa cách với cuộc sống hàng ngày.
Có thêm được một NHẤT-TUẤN, người đọc biết tâm trạng người lính nhảy dù;
Mỗi bận nghe dây lôi ở sau
Tôi thầm cầu nguyện mở cho mau
Tim tôi đập mạnh, nhưng vừa lúc
Dù đã bung ra vạn sắc màu
Những múi dù căng lên đón gió.
Những hàng giây bạc xuống song song.
Ôi đẹp tựa trăm hoa đua nở.
Tôi kéo dù bay giữa nắng hồng.
càm thông với nỗi niềm của một người lính trẻ ôm súng gác trên đồn canh biên-giới trong một chiều mưa:
Nghe xao xuyến lòng mình rồi khẽ gọi...
Thầm kêu tên một hình bóng xa xăm.
Biết người xưa còn nhớ mình chăng.
Kẻ chiến tuyến thương về người hậu tuyến
hiểu được sinh hoạt người chiến-binh chưa lần nào vui trọn một mùa Xuân, và những mùa Xuân:
Chỉ là những chuyến hành quân.
Và những đêm dài nằm phục kích.
Tay hờm sẵn nấc cò.
Ngắm kỹ từng tên địch.
Đế trung liền ghì chặt trên vai.
Cây đại-liên hòm đạn xếp hàng dài.
Chờ còi lệnh nổ rền...thay tiếng pháo.
Nhưng cho dù đời sống cùa anh bộ đội chúng ta có gian khổ thế nào, tâm hồn anh có cao đẹp đến đâu, không phải ai cũng trung thành và tưởng nghĩ đến lòng hy sinh cao cả của anh; và người phụ bạc với anh trước tiên lại là người yêu anh trong nhiều năm tháng trước. Nhưng lần này người ta thấy anh bình tĩnh và can đảm hơn nhiều. Không những anh đã khinh thường tính đời đen bạc mà anh còn thản nhiên sau một ngày truy kích giặc, tối ngồi cầm bút viết thư chúc phúc cho khách sang ngang. Lúc nàyvà trong những trường hợp này, người ta thấy quả tình anh đã trưởng thành trong tình yêu và trong cách-mạng, --cách mạng trong luyến-ái-quan và ngay cả trong thi-ca--. Người đọc được đọc của anh những vần thơ khỏe mạnh giản-dị, khác hẳn với những vần thơ ủy-mị sướt mướt trước kia; những vần thơ thật hiếm hoi trong nền thi-ca hiện-đại ở Miên Nam Tự-do của chúng ta:
Rất tình cờ
Tôi quen một người con gái
Rồi chúng tôi thương nhau
Đẹp như tình thơ dại...
Yêu như thưở ban đầu
Vì người yêu của tôi còn đi học
Và tôi là... quân nhân
Nên nàng thường hay khóc
Mỗi lần tôi đi hành quân
Con đường mới có rất nhiều hoa thơm cỏ lạ. Người lính làm thơ đã đặt chân đến. Anh đã hái được những vần thơ đẹp trong buổi ban đầu. Người ta hi vọng anh sớm dứt bỏ hẳn nhưng khuôn sáo xưa cũ, những vần điệu không hồn, vô nghĩa những tiếng dùng không có một tiếng ngân và một tiếng vang như nằm gai nếm mật, lịch sử huy-hoàng, ca khúc viễn hành, đẹp hơn tiên nga, v.v... để nói tiếng nói trung thành của người hôm nay và để tạo cho mình một chỗ ngồi xứng đáng với lòng chân thật và bao nhiêu hy-sinh quả cảm của mình.
ĐỖ - TẤN
(Trích Tin Sách số 1-1962 bộ 3)
-----------------------------------------------------------------
(I) Những tác giả trích dẫn có tên ở trên đã làm những bài thơ hay khi họ chưa bị Việt-công nhuộm đỏ!...





MỘT VÀI Ý-KIẾN
VỀ TẬP THƠ
truyện chúng mình
bài của THÁI-THỦY
Tôi đón tập thơ TRUYỆN CHÚNG MÌNH của NHẤT-TUẤN với niềm hân-hoan của một chiến-hữu khi thấy bạn mình vừa lập chiếng-công. Chiến-công đó là sự cố gắng của tác-giả để tập thơ có thể ra chào đời trong một hoàn-cảnh không mấy dễ dàng cho người cầm viết ở đây, khi muốn đứa con tinh-thần của mình ra trình diện với độc-giả.
Tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người làm thơ vốn nghèo, hơn nữa là người làm thơ Việt-Nam trong tình trạng mộ quốc-gia hầu tiến mà hoàn cảnh dân trí, hoàn cảnh sinh hoạt eo hẹp của độc-giả không cho phép họ mua thơ để nâng đỡ thi-sĩ. Bởi vậy, chắc chắn rằng trong sinh hoạt thi ca hiện thời, số bản thảo chưa có phương tiện đưa ra nhiều gấp bội số thơ đã xuất-bản. Thế cho nên, khi một tác-phẩm thi ca ra chào đời, điều nhận xét đầu tiên và công bằng của chúng ta là phải khen ngợi tác-giả đã cố gắng rất nhiều để góp phần vào việc làm đông vui sinh hoạt thi-ca ở đây.
Những người trẻ tuổi hôm nay, do hoàn cảnh một xã-hội chiến-tranh chi phối đã chịu đựng và thiệt thòi quá nhiều trong đời sống tinh-thần cũng như vật chất. Chúng ta đã đánh mất trạng-thái thái-bình của tâm-hồn, cũng như chúng ta đang phải làm những việc mà ở thời đại khác, tuổi chúng ta chưa phải làm. Bằng quan điểm đó, tôi đi sâu vào TRUYỆN CHÚNG MÌNH của NHẤT TUẤN:
Hôm nay, trên những ngả đường đấu tranh cho giá trị và quyền sống con người, có biết bao nhiêu người ban trẻ tuổi như NHẤT TRUNG, ngày nào rảnh rỗi, vẫn lén ghi những tâm tình thầm kín, những ước vọng cá nhân, những cảm xúc chân thành trong cuộc chiến đấu này vào những tập thơ giấy nhỏ, giấu tận đáy túi hành trang. Và TRUYỆN CHÚNG MÌNH có lẽ chẳng phải là câu chuyện riêng tư của hai kẻ yêu nhau mà có thể là truyện đời của những người tuổi trẻ trong Quân-đội nói riêng, và thế-hệ chúng ta nói chung.
Trừ những chế-độ bóp nghẹt tình cảm con người còn trên mọi hoàn cảnh xã hội, chẳng có ai ngăn cản những người vừa là chiến-sĩ hăng hái giết giặc vừa làm thơ kể lể những yếu đuối của lòng mình, những thầm kín của mối tình ngây thơ và tha thiết.
Thế cho nên chúng ta chẳng hề ngạc nhiên khi qua Truyện Chúng Mình chúng ta thấy Nhất-Tuấn xuất hiện dưới nhiều hình ảnh khác biệt: khi thì là người lính ôm súng gác nơi đồn canh biên giới:
Đồn biên giới một chiều mưa lạnh buốt
Trên chòi canh đứng gác ngắm màn đêm
Mây đồi xa chĩu xuống một màu đen
Những cánh gió thở dài trên núi đá...
(bài... Mưa Trên Đồn Canh Biên Giới)
Khi thì là anh lính nhẩy dù tinh nghịch lấy trong dù bụng ra tờ giấy để viết mấy dòng cảm ơn chị nữ phụ tá gấp dù.
Cứ mỗi lần sau khi nhẩy xong
Dù vừa xuống đất sướng vô cùng
Lôi trong dù bụng ra tờ giấy
Viết cám ơn nhau đấy biết không?
(bài Những Nàng Tiên Mũ Đỏ)
Khi thì là người lính văn nghệ mang bút đi tham gia và thông cảm với cuộc chiến đấu của những người chiến hữu anh dũng tại miền Cao-Nguyên heo hút:
Đây có những người trai
Của núi rừng đất đỏ
Ba lô nặng chĩu vai
Từng hành quân gian khổ
Hết ở "Pla-tô-j"
Lại sang miền "Đắc-Sút"
Bụi nhòa bộ "Tây di"
Thân run trong giá buốt.
(bài Thăm Người Lính Cao-Nguyên)
Khi lại xuất hiện dưới hình ảnh chàng si tình có bộ mặt thảm não đang quỳ lạy dưới tượng Chúa để xin cho mình được vẹn nhân duyên:
Con quỳ lạy Chúa trên trời
Để cho con lấy được người con yêu.
(bài Cầu nguyện)
Khi băn khoăn với những kỉ niệm gói trong một cánh hoa Mimosa, bao hàm biết bao nhiêu ý nghĩa của yêu thương:
Mới bốn mùa Thu qua
Mimosa vẫn nở
Sao mố tình đôi ta
Ai làm cho dang dở?
(bài Mimosa Thôi Nở)
Khi lại mang tâm sự cảu một kẻ hoài hương trong đêm giao thừa nhớ về những hình ảnh mùa Xuân êm đềm của ngày đất nước chưa cắt chia, con người còn sống trong yêu thương đoàn tụ:
Đêm ba mươi tết giao thừa điềm
Khắc khoải niềm xuân nhớ biết bao
Em ở ngoài kia em có mộng....
Về những mùa xuân đẹp thủa nào?
(bài Đâu Những Mùa Xuân Thủa Trước)
Bao nhiêu hình ảnh tương phản nhau ấy lại hỗ trợ cho nhau, tạo nên một con người thực, sẵn sàng rung động với những hình ảnh thơ mộng, yếu đuối ích kỷ, nhưng cũng sẵn sàng lao mình vào cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc hôm nay.
Thế cho nên điều bất mãn nhất của tôi là thấ Nhất-Tuấn chia tập thơ Truyện Chúng Mình ra làm hai phần để phần sau nói riêng về thơ chiến đấu, như là xác định một lập trường mà anh đã trình bầy trong bài thơ cuối cùng bài Dứt-Khoát:
Tình cảm tôi lớn lên từ đó
Nhưng vần thơ từ nay không buồn không nhớ
Không còn ủy mỵ xót xa
Tôi tin
Và tôi đã nhất định là
Dứt khoát với quá khứ trong niềm vui hiện tại
(bài Dứt Khoát)
Có phải rằng muốn tham gia hữu hiện vào trong cuộc chiến đấu hôm nay, ta cần phải dứt khoát, từ bỏ quá khứ? Tôi không tin rằng như vậy. Trong sự tự-do chọn lựa một cách vô cùng ý thức của mỗi con người hôm nay, chính những hình ảnh quá khứ là một trong những động-cơ thúc đẩy chúng ta chiến đấu nồng nhiệt hơn. Bên cạch danh từ và ý nghĩa to lớn của Quốc-gia dân-tộc_ danh từ và ý nghĩa này đã từng bị lợi dụng và lạm dụng hơn một lần_ cuộc chiến đấu chống bạo tàn Cộng-sản cảu chúng ta hiện giờ còn mang rất nhiều tính chất bảo vệ quá khứ, bảo vệ những kỷ-niệm của tâm hồn con người.
"Tôi cho rằng cuộc chiến đấu hôm nay bắt nguồn từ nhừng động cơ rất nhỏ bé nhưng cũng rất "người" đó. Chúng ta chiến đấu để cho những kỷ niệm hoa niên tồn tại trong tâm hồn, chiến-đấu cho tình yêu cá nhân của chúng ta, chiến đấu để bảo vệ làng xóm, bảo vệ thành phố thân yêu, bảo vệ một ngôi nhà quen thuộc, bảo vệ mái tóc, môi cười của một người em gái, bảo vệ mái tóc, bảo vệ con đường xanh bóng cây dâm mát mà người yêu lý tưởng của chúng ta áo xanh, áo trắng đi về". Cho nên, một câu hỏi được đặt ra với tác giả TRUYỆN CHÚNG MÌNH: có phài rằng muốn phục vụ đại nghĩa, chúng ta phải từ bỏ tình yêu nhỏ bé, phải từ bỏ những ước vọng cá nhân.
Về kỹ thuật tập thơ, một khuyết điểm mà ai cũng dễ dàng nhận thấy trong TRUYỆN CHÚNG MÌNH: đó là sự dễ dãi trong việc ghép vần, ghép chữ, dễ-dãi đến gần như cẩu thả của NHẤT TUẤN. Nhiều người đã đọc được NHẤT TUẤN, than phiền với tôi điều ấy. Như những câu:
Truyện đời thì sớm nắng chiều mưa.
Làm sao mà biết được?
( bài Nếu Em Tặng Anh Một Chiếc Hình)
hay là:
Người ta bỏ con rồi.
Con qùy lạy Chúa trên trời thương con.
(bài Cầu Nguyện)
Riêng tôi, tôi có đủ lý do để bỏ qua những dễ-dãi đó của NHẤT TUẤN, mặc dù nhửng dễ-dãi này có hại rất nhiều đến nghệ-thuật, bởi vì tôi hiểu rằng khi làm như vậy, tác giả đã sống rất thực với lòng mình, với một tâm hồn hăng say cuồng nhiệt, yêu đời, và ít vướng bận về những thắc mắc phức tạp như phần đông những người tuổi trẻ bây giờ.
Dù sao, Truyện Chúng Mình cũng được tung ra bốn phương và nếu tôi không nhầm thì cuốn thơ này đã được đa số độc giả, nhất là độc giả phái nữ đón nhận một cách nồng hậu. Sự kiện đó chắc chắn sẽ làm cho NHẤT-TUẤN cố gắng để tránh những khuyết điểm nếu anh nhận rằng có trong Truyện Chính Mình tập 2, mà anh có cho biết là sẽ xuất bản một ngày gần đây.
THÁI - THỦY
(Trích Văn Nghệ bạn trẻ Tiếng Dân ngày 18-2-1962)
---------------------------------------------------------------------

Sài gòn ngày 28-2-1962

THÂN GỬI ANH NHẤT-TUẤN
Tôi đã đọc hai lần tập thơ anh gửi tặng để duyệt lại những cảm nghĩ chân thực cùa mình đối với một tác-phẩm mà mình biết_ bạn mình đã gởi gấm trong đó khá nhiều trìu mến.
Chẳng có gì lạ vì nói là đứa con đầu lòng cùa một tình yêu đôi mươi. Tôi thích những đoạn thơ thất-ngôn của anh. Ở trong khuôn khổ của thể thơ ấy tôi thấy một Nhất-Tuân thoải mái, dễ-dàng, nhiều khi già-dặn. Trong những thể thơ khác tôi không thấy Nhất-Tuấn có được phong-thái ấy.
Những câu " Nắng lưa-thưa cũng nghiêng vành nón..." hoặc:" một thoáng buồn lên bước ngập ngừng..." nghe thật thú vị. Khuôn-khổ cũ, chất-liệu cũ mà dựng được những câu gợi lên một cái gì tươi mát "nguyên chất" như vậy đáng kể là thích-thú.
Tuy vậy, không phải đoạn nào, câu nào, Nhất-Tuấn cũng "xuất thần" được như vậy. Trong kỹ-thuật của thể thất-ngôn, nhiều lúc Nhất-Tuấn vẫn rơi vào chỗ: đặt những câu thường-thường, trung trung, nếu để "nối liền" cho toàn bài thì không tệ, nhưng nếu tách riêng ra để thưởng-thức thì chưa có đủ giá-trị của một chuỗi ngọc không vết.
Trong một đôi bài, làm như Nhất-Tuấn đã thú "câu chuyện rất nên thơ" rồi thì Nhất-Tuấn phải làm thành một bài thơ bất kể đến phương-pháp lể chuyện đã đạt tới mức nghệ-thuật chưa; ví-dụ như bài "Hai vé số"!
Cho nên, trong "Truyện Chúng Mình" có những câu đột hiện lên với vẻ rất "thơ" vẫn kéo theo nhiều câu chưa đạt tới mức "thơ". Tôi hình dung thấy một "tuổi-trẻ-đáng-yêu", bước tung-tăng bứt tất cả những hoa, những lá, những cỏ trên đường, đựng vào vạt áo mà không mảy may bận tâm chọn lựa. Đáng yêu là ở chỗ đó!
Tôi biết: mai này, khi Nhất-Tuấn đã già-dặn hơn trong thi-ca, cũng sẽ nâng niu những "vần thơ đầu" như nâng-niu một thái-độ sống vậy.
Điều đó, tất không ai có quyền bàn cãi đến. Nhưng điều chắc chắn là tôi đã thuộc nằm lòng một số câu thơ hay của anh, trong đó có cả một đôi câu còn "ngường-ngượng" và "thèn thẹn"...
Bạn anh,
MẶC - THU
--------------------------------------------------------------------





Ý-KIẾN CỦA
ĐINH - HÙNG
VỀ THƠ
NHẤT - TUẤN
Thơ Nhất-Tuấn là tiếng nói riêng của mình Nhất-Tuấn để gửi riêng cho một người_ tiếng nói hồn nhiên và tâm thành của một Tình Nhân. Chính ở chỗ riêng tây đó mà tuy hồn nhiên dễ dãi như lời nói chuyện thân mật, nhưng thơ của Nhất-Tuấn vẫn có một giá trị lâu bền_ giá trị của một sự thể hiện, một công trình sáng tạo độc đáo. Và, tuy câu chuyện tình của Nhất-Tuấn riêng tây, nhưng người Tình Nhân thành khẩn đó vẫn có thể là người Tình nhân muôn Thủa, vì từ muôn thủa, tiếng nói của Ái Tình vẫn là những tiếng nói thân mật nhất cà riêng tây nhất.
Nhất-Tuấn còn là một quân nhân, nên "Truyện Chúng Mình" của anh còn dành một phần để kể những câu chuyện chiến đấu. Và có nhiều người cho rằng Ái Tình không thể đi đôi với chiến đấu. Có người lại muốn phân tách riêng hai hướng Thơ Tình Yêu và Thơ Quân đội, để xác nhận rằng Thơ Quân Đội là một bước tiến mới mẻ của Nhất-Tuấn, vượt khỏi địa hạt Ái Tình xưa cũ và bé nhỏ.
Tôi không nghĩ thế. Tôi muốn tin rằng người ta có thể vẫn yêu mà cẫn chiến đấu được như thường. Ở người chiến sĩ tự do, tất nhiên dưới bộ quân phục vẫn còn nguyên vẹn một trái tim Người_ và Nhất-Tuấn, trước khi là chiến-sĩ, cũng đã là một Người_ hơn nữa, một Người Thơ.
Từ ngàn xưa, người ta đã biết thương nhau và từ thời Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Quang Trung... dân tộc chúng ta cũng vẫn chiến đấu.
Vậy đứng nên chia hai con-người-thuần-chất_ Nhất-Tuấn để đáng giá Nhất-Tuấn-Quân-Nhân hơn, hay Nhất-Tuấn-Tình-Nhân hơn.
Đã có lần tôi viết:
"Tôi biết có những nhà phê bình (đạo đức nhiều hay ít, chuyên môn hoặc không chuyên môn), không hiểu vì kiêng kỵ hoặc dị tính làm sao, mà hễ cứ động tới Thơ Ca Tình Ái liền nghiêm ngay nét mặt lại, trịnh trọng khoác áo trùng thâm vào người, đeo thêm cặp kính trắng đạo mạo, để mà da diết kêu rằng: "Tại sao các thi sĩ cứ phải nói tới Tình ái, anh anh, em em? Sao không nói tới các thứ tình khác, ví dụ như Tình Gia Đình, Tình Bè Bạn, Tình Quê Hương, Tình nhân Loại "rộng lớn", hoặc tình Quân Dân?... Giữa những biến cuộc Công Gô, Ai Lao, Tây Đức... mà thi nhân vẫn có thể bình thản ca hát Tình yêu sao?..." (I)
"Nhưng các thi sĩ của Tình Yêu sẽ trả lời: Tại sao không nói tới Ái Tình mà lại phải nói đến các thứ tình yêu? Bên Ai-Lao, người ta đánh nhau thực đấy, nhưng ở đây, chúng tôi đang yêu nhau... Chẳng lẽ chúng tôi phải hỏi ý kiến Đại-úy Khong-Le rồi mới làm thơ tình cho nhau hay sao?"
"Đúng thế. Mặc cho các nhà phê bình mô phạm kia thất vọng vì thấy xung quanh mình người ta yêu nhau... nhiều quá, chúng ta cứ việc làm thơ Tình Ái, nếu Ái Tình tìm đến với chúng ta"
"Chúng ta khỏi cần biện luận: Bài thơ đầu tiên của nhân loại là một bài thơ Tình, giữa Adam và Eve. Kẻ nào không biết yêu hoặc không thể yêu được nữa là kẻ ấy thiệt! Cộng Sản cũng chỉ vì không biết thương yêu, không có Thơ tình, không biết nói tiếng "anh" và tiếng "em" cho ngọt ngào uyển chuyễn, cho nên mới làm nhiều truyện phi nhân, Người chiến sĩ phụng sự cho Tự Do chính Nghĩa từ trong tâm linh chính là Người chiến sĩ vẫn hằng ấp ủ một bài thơ tình diễm tuyệt để tặng "Em""...
Tôi chờ đợi "Truyện Chúng Mình" tập II của Nhất-Tuấn như một kẻ tình nhân chung thủy chờ đợi tình thư của người yêu.. Chắc rằng tất cả những người đã yêu, đang yêu và sắp yêu cũng sẽ tìm thấy phần nào bóng dáng tâm hồn họ. Khi đọc "Truyện Chúng Mình"...
ĐINH - HÙNG
-----------------------------------------------------------------





CHÚNG TÔI ĐỌC
truyện chúng mình
tập II
bài của ĐỖ-TẤN
Trước đây, cũng trên mặt báo này lần đầu tiên được đọc những vần thơ sau đây của Nhất-Tuấn trong TRUYỆN CHÚNG MÌNH tập I:
"Rất tình cờ
Tôi quen một người con gái
Rồi chúng tôi thương nhau
Đẹp như tình thơ dại
Yêu như thưở ban đầu
Vì người yêu tôi còn đi học
Và tôi là...quân nhân
Nên nàng thường hay khóc
Mỗi lần tôi đi hành quân".
Tôi có phát biểu ý kiến rằng: đó là những vần thơ giản dị, trong sáng, khỏe mạnh nhưng không thiếu vẻ say mê và hấp dẫn. Và tôi cũng quả quyết rằng chỉ có những tâm hồn lành mạnh mới có thể viết những vần thơ như thế. Vì vậy, tập thơ được chia làm hai phần, phần đầu gồm 15 bài thơ nói về những lần yêu thất bại của tuổi đôi mươi chưa dám nhìn thẳng vào cuộc đời, phần thứ hai gồm 14 bài thơ nói nhiều đến cuộc sống gai lửa cùa người quân-nhân; tôi đã chú ý đến phần sau và nói về cuộc sống đó để đi đến kết luận: con đường mới có rất nhiều hoa thơm, cỏ lạ. Người lính làm thơ đã đặt chân đến. Anh đã hái những vần thơ đẹp của buổi ban đầu. Người ta hi vọng anh tiếp tục đi sâu vào con đường gai lửa, khai phá được ở mảnh đất mới đó những thành công rực rỡ hơn để tạo cho mình một chỗ ngồi xứng đáng với lòng chân thật và bao nhiêu hi sinh quả cảm của anh.
Bài báo in xong tôi ân hận đã không nói, hay đã nói rất ít về những bài thơ tâm tình của Nhất-Tuấn. Lần này tác giả lại cho in TRUYỆN CHÚNG MÌNH tập II nói toàn chuyện yêu thương. Cầm tập thơ, tôi có cảm tưởng như đó là một lời thách-thức: "Đấy, lần trước anh quên nói thì bây giờ anh nói đi, lòng dạ, ruột gan, tâm hồn tôi đấy, anh nói đi!". Nhưng cho dù đó là một lời thách thức thật sự, tôi vẫn cho đó là lối biểu hiệu lòng trung thực. Hôm nay tôi xin nói về cái tâm hồn trung-thực đó.
Điều mà tôi có thể nói ngay được với các bạn là hai mươi bài thơ đem in thành tập lần này, có lẽ tác-giả chỉ để dành riêng cho tuổi đôi mươi của hôm nay, của bây giờ, vì chỉ có tuổi đôi mươi của hôm nay của bây giờ mới có một loài tình yêu như "tình yêu của người thủy-thủ".
Tôi biết truyện có người con gái
Yêu một chàng thủy thủ si tình
Nàng là cô học trò 19 tuổi băng trinh
Học đệ nhất tại trường trung-học nọ
Cả hai đều say mê gắn gó
Cả hai cùng thiết-tha...
Người lính hải quân trẻ vì công-vụ thường phải đi xa
Nhiều chuyến hải-hành dài vô cùng tận
Trên boong tàu.
Những khi gió êm sóng lặng
Anh chàng say mộng rất nhiều
Hoặc đếm từng vì sao trên trời mà nhớ tới người yêu
Lòng như trỗi khúc tình ca
Lúc ấy anh của muốn xin Hạm trưởng lái tàu hướng về Chợ-lớn.
Mới có loại tình yêu của hai nguời thườg đưa nhau đi chọn màu áo và lần nào nàng cũng trao cho chàng cái quyền tự-do lựa chọn, lần nào nàng cũng tuyên bố : "màu nào anh thích màu em thích" nhưng đến lần trọn màu áo cuới mà nàng lại quên chàng mà đi nhờ người khác. Chỉ có tuổi đôi mươi của hôm nay, của bây giờ mới có cái ý tinh nghịch, lúc đang yêu nhau, rủ nhau vào nhà thờ cầu nguyện Chúa và rúc vào đình chùa đẻ xin một quẻ xăm.
"Ba năn xin quẻ xăm đều tố,
Ỳ Thánh thương đôi trẻ duới trần".
Và cũng chỉ có tuổi đôi muơi của hôm nay trong khi yêu nhau mới thường "kéo" nhau đi xem chiếu bóng, mới sành phim nào hay và tài-tử nào là tài tử gạo cội (chẳng là họ thuộc tên tài tử hơn là thuộc tên các danh nhân lịch-sử) để đến khuya về nàng thao thức không sao ngủ được và sáng thứ hai dậy muộn, bỏ mất giờ học đầu, bị cô giáo già " thưởng" cho bốn giờ công-si và " tặng" chép phạt luôn mấy trăm câu. Nhưng:
"Ngày thứ tám em ngồi vào chép phạt
Mấy trăm câu mà viết mãi không xong
Bà giám-thị cầm giấy xem chỉ thấy
__Chúa nhật này "Trẫm" nhớ Ái-Khanh không?"
Nhưng rồi cho dù tình yêu kia có đẹp… và thơ mộng như “tình yêu của người thủy-thủ” có thiết-tha say đắm như những người thường đi “chọn màu áo”, có ngây thơ và đầy vẻ chân thành như người học trò con gái bị chép phạt cũng có ngày… tình nhạt, mơ tàn, “nàng vẫn yêu và… nàng vẫn lấy chồng”!
“Sau ngày cưới một tháng
Người con gái hết buồn
Còn anh chàng thủy thủ vẫn cô đơn
Vẫn ấp-ủ mối tình thời nhỏ dại”
Và người con trai chỉ biết trách móc, than van:
“Bao nhiêu lần chọn chung màu áo
Em vẫn nhờ anh, em nhớ không
Áo cưới sao em nhờ... kẻ khác…
Làm anh chờ đợi chỉ hoài công”
Hoặc nếu có nóng nảy bực tức thì cũng chỉ dám ngổ ngáo… “mắng” thẳng vào mặt Thánh Thần:
“Tám năm qua mộng dở dang rồi
Chúa chẳng thương… và Thánh dối người
Để đến bây giờ em phụ bạc
Nên xuân về chỉ thấy đơn côi”
Có một điều mà chắc độc-giả ai cũng để ý là qua bao nhiêu mối tình, qua bao nhiêu lần yêu thương say mê thiết tha, lúc nào nàng cũng phụ chàng, __ “TRUYỆN CHÚNG MÌNH” lúc đầu trở thành “truyện củ kẻ cô độc” và sau qua những lần thất bại đắng cay giọng thơ của người trẻ tuổi tưởng như cằn cỗi già nua vì sức nặng của bao nhiêu đau thương chồng chất. Người thơ có cái giọng của kẻ chán đời, mà không chán đời, buồn bực đau khổ thật đó nhưng mà rồi vẫn rộng lượng tha thứ, coi đó như là những thử thách mà anh ta phải chịu đựng: người nữ học sinh lớp đệ nhất đã đi lấy chồng nhưng:
“Rồi từ đó cứ mỗi lần về phép
Chàng thủy-thủ si tình
Cúi đầu đi trên những đường phố cũ một mình
Đường vào Chợ-Lớn,
Đường Yên-Đổ, đường về trường Gia-Long
Vẫn hai hang cây xanh bong mát
Vẫn tiếng chim trời ca hát
Tình yêu, tình yêu… ôi tình yêu.”
Người yêu bé nhỏ sang ngang, anh âm thầm gởi trả lại “những thư yêu ngày trước, năm trăm lá còn nguyên, cho đúng lời giao ước”. Anh cũng trả lại tập khăn thêu, cuốn lưu bút, đôi vòng tay, cặp gối hồng, trả luôn những lời khấn nguyện trong lúc hai người còn yêu nhau mà sau này anh cho là vì ngày trước nàng hơi vội trong lúc hẹn thề, trả luôn cả những môi cười, song mắt, những kỷ-niệm êm đềm, duy:
“Còn một trái tim
Trọn đời anh giữ lại
Trọn đời anh mang theo
Cho đẹp tình thơ dại”
Người con trai ở đây chờ đợi một thần tượng của trung-hậu, thủy-chung:
“Chiều qua nắng cũ heo vàng
Không dưng nhớ chuyện lỡ làng ngày xưa
Đã thề thôi chẳng làm thơ
Không yêu đừng nhớ không mơ đừng buồn
Mà sao lòng vẫn cô đơn
Mà sao vẫn nuối trong hồn bóng ai”
Nói về thể-cách diễn đạtthơ hôm nay, hơn một lần tôi phát-biểu rằng cái giọng thơ yêu đương tha thiết đã kéo qua thi-đàn Việt-Nam quá lâu rồi.
Bây giờ, cho dù người thơ có say mê đắm đuối đến đâu nhưng nếu cứ giữ những khuôn sáo cũ, những chữ những nghĩa cũ, e khó lòng vượt qua được một Xuân-Diệu trẻ trung say đắm, thiết tha thời tiền chiến, e khó lòng nhại cái ngây thơ bé bỏng của một Nguyễn-Xuân-Huy, e khó có thể theo kịp cái mê cuồng si dại của một Tế-Hanh thuở nọ. Chẳng là, dù muốn dù không, văn-học vẫn mang những khí-thái của con người thời đại. Mỗi thời, con người có tiếng nói riêng của nó. Cũng như chữ Tình, cũng một chuyện yêu thương, nhưng ở mỗi thời những người đang yêu, hiểu mỗi cách khác nhau, thể-hiện bằng những hình thái khác nhau. Tại sao lại cứ bắt người thơ hôm nay phải đi nói cái giọng nói của những người thơ ngày trước phải đi dung những chữ, những nghĩa, những hình ảnh, vần điệu của những người thơ ngày trước?
Nhất-Tuấn không vấp vào những khuôn thước cũ đó. Anh nóitiếng nói riêng của anh, bằng những thể-cách diễn-đạt riêng của anh, tiếng nói của người đôi mươi hôm nay, thể cách bộc lộ của người đôi mươi hôm nay. Nhưng tiếng nói đó, thế-cách bộc lộ đó diễn đạt đó không thiếu vẻ chân thật hấp dẫn của nó. Không thế mà hơn một nghìn tập thơ đầu đã bán được hết trong vòng bẩy ngày, nhưng anh phải nói trong một tháng mới có người tin.
__ Không, Nhất-Tuấn không cần nói dối như thế. Như trong bài thay lời tựa anh đã viết, không ai có quyền cấm anh dung những hình ảnh đơn sơ, những câu thơ bình-dị để diễn đạt trung-thực tất cả những tâm-sự, những nỗi niềm mà anh cần phải giãi bày. Nhất-Tuấn không phải là một ông A, bà B, cũng không phải là một Đinh-Hùng, một Huy-Cận, một Thâm-Tâm, Nhất-Tuấn là Nhất-Tuấn là người đã nói tiếng nói riêng của mình, và may thay, tiếng nói riêng đó lại cũng chính là tiếng nói của một số người đôi mươi hiện tại. Như vậy, thơ anh bán chạy cũng không có gì là khó hiểu. Còn tiếng nói đó nói ra trong lúc này có đúng lúc không, đó lại là một vấn đề khác.
Đỗ Tấn
(Trích Nhật báo Ngôn-Luận ngày 22-6-1962)




PHÊ BÌNH


Truyện chúng mình II

Tôi nghe nhiều người nói thi-phẩm TRUYỆN CHÚNG MÌNH của NHẤT-TUẤN bán chạy lắm. Tôi nhớ tôi đọc vài bài thơ của Nhất Tuấn đăng rải rác ở các báo Quê Hương, Thẩm Mỹ, Phụng Sự, tôi đã rồi tôi đã quên mất đi, không còn một chút gì lưu lại trong đầu óc. Tôi ngạc nhiên vì đã không nhận chân được một “thi-tài” còn sống âm thầm trong bong tối. Bây giờ tôi muốn tìm đọc lại Nhất-Tuấn, tìm hiểu con người và nghệ-thuật Nhất-Tuấn. Tôi đến các hàng sách. Các ông bà chủ hang sách đều bảo: Tập Truyện Chúng Mình đã bán hết. Tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ. Không được đọc thi-phẩm, tôi tò mò muốn biết giới độc giả đã nhiệt liệt yêu thơ Nhất-Tuấn. Nhiều cô hang bảo: “Phần nhiều là học sinh”. Lại có nhiều người bảo: “Các cô cậu mua để tặng nhau”. Tôi ra về hồn vương vấn bao ý nghĩ…
Rồi một hôm tôi nhận được quyển TRUYỆN CHÚNG MÌNH Tập II do tác giả đề tặng. Không đọc tập I, thì âu là tìm hiểu thi sĩ ở tập II. Và ngay đêm ấy, tôi đã đọc thi-phẩm với tất cả những mỹ-tình sẵn có, với tất cả lòng nao nức của một kẻ muốn bắt mạch thời đại và tìm hiểu một người thơ.
TRUYỆN CHÚNG MÌNH chỉ là mẩu chuyện riêng của Nhất-Tuấn và người yêu, nhưng thi-sĩ đã muốn truyện riêng của “CHÚNG MÌNH” thành ra truyện chung của những tâm hồn thơ đồng điệu. Vì vậy, với lời thơ vô cùng hồn nhiên, từ thơ vô cùng thành thật, điệu thơ nhẹ nhàng êm ái, thi sĩ đã kể lại cho nàng và cho cả chúng ta nữa, những kỷ niệm buồn vui, dệt lại bằng thơ những giấc mộng ngày xanh đằm thắm.
Còn gì thơ mộng hơn là truyện của đôi lứa yêu nhau! Còn gì đẹp hơn những cánh hoa tình vừa chớm nở, dâng hương ngào ngạt gợi sự nhớ nhung vĩnh viễn, se sắt ở trong lòng người. Thi-sĩ đã nhớ đến cảnh vào thu và tìm hiểu nỗi buồn của người yêu qua ánh mắt:
“Hôm ấy mùa thu vào ánh mắt,
Nên em buồn chẳng noi câu gì
Dáng sầu như một nàng tu kín
Hai đứa dìu nhau lặng lẽ đi”
(Vào thu)
Nhưng không phải mùa thu luôn luôn gieo mơ buồn, mà còn tô ánh hồng lên má; điểm nụ cười trên môi. Lời thơ của Nhất-Tuấn thật là duyên dáng dễ yêu:
“Nhớ buổi chiều thu đó
Ngồi nhìn an hem cười
Mắt ánh hồng lên má
Tóc huyền buông lả lơi
Trăm ngàn câu tâm-sự
Muốn nói nhưng nghẹn lời
Cả hai cùng e ấp
Ngập ngừng… qua làn môi”
(Bây giờ… em lấy chồng)
Hết nhớ kỷ-niệm mùa thu, thi-sĩ lại nhớ những kỷ-niệm mùa xuân. Thi-sĩ hòa mình trong kỷ-niệm, ấp ủ cho lòng những dư ảnh ngày xưa. Từ “mùa xuân của chúng mình” đến “ mùa xuân đơn côi” thi sỉ sẽ gieo cho ta một thoáng vui trong sang và một thoáng nhẹ u buồn:
Hôm nay bướm báo mùa xuân đến
Anh nhớ mùa xuân của chúng mình
Lòng lại mơ về thời dĩ vãng
Có trời xanh, có bướm trắng sinh

Ngày ấy cả hai cùng dại khờ
Một trang tình sử đẹp như thơ
Có chàng trai mới hai mươi tuổi
Yêu một người em gái học trò

Từ đó quen rồi thương mến nhau
Định rằng sẽ tính chuyện trầu cau
Thề nuôi một mối tình chung thủy
Và sẽ yêu cho đến bạc đầu

Ngày ấy xuân về em nhớ không
Anh ra vườn hái một bông hồng
Rồi cài lên tóc em anh bảo
Mừng tuổi cho em (vợ của chồng!)

Ngày ấy xuân về em nhớ chăng
Rủ nhau hai đứa đi xin xăm
Ba năm xin quẻ xăm đều tốt
Ý Thánh thương đôi trẻ dưới trần

Tám năm qua mộng dở dang rồi
Chúa chẳng thương… và Thánh dối người
Để đến bây giờ em phụ bạc
Nên xuân về chỉ thấy đơn côi.
(Xuân Của Chúng Mình)
Tuổi hai mươi là tuổi yêu đương liều lĩnh, bất chấp cả dư luận, bất chấp cả tương lai. Nghe nói “ái tình lá trái cấm”thì lại càng thèm càng muốn hái cho được và ăn cho thỏa. Hình ảnh của Nhất Tuấn hai mươi vẫn là hình ảnh của con người muôn thuở. Ta có manh kính đạo đức mà lên án nghiêm khắc như Chúa đã buộc tội Bà Ê-Va, con người còn thị dục thì vẫn còn liều lĩnh phạm tội. Truyện riêng của NHÂT-TUẤN lại là truyện chung (đúng như điều tác-giả mong muốn) của cả thế-hệ thanh-niên lạc long trên bờ “hiện sinh” ngày nay.
Suốt năm ấy hai đứa mình yêu nhau
Xé vở học trò viết thư tình tâm sự
Bài không xem, khi yêu ai cần nữa
Cửa Thiên-đàng mở rộng đón hai ta
Hồn lâng say nghe tấu nhạc tình ca
Hoa gặp bướm lần đầu tiên say đắm
Nên dẫu bảo ái tình là trái cấm
Thì chúng mình vẫn hái… thản nhiên ăn
Từng kề môi ấp má biết bao lần
Vẫn thiếu thốn như linh hồn cô độc
(Lỡ Một Mùa Thi)
Nhất-Tuấn không xem những cử chỉ vụng dại ấy là tội lỗi nên cố ý thi-vị hóa tất cả những tấn trò yêu đương ngây dại của tuổi thơ. Thi- nhân chỉ biết tìm ở đó những khía cạnh tốt đẹp, còn một khía cạnh khác, còn xấu xa hay tai hại đến đâu chàng cũng mặc kệ.
Ta hãy xem chàng tiếp tục thi-vị hóa một hành-động vụng dại của những kẻ yêu nhau:
Chỉ tại anh nên hôm qua về trễ
Cứ “phim hay tài tử trứ danh” hoài
Anh quảng cáo và “tô màu” giỏi thế
Hỏi ai còn nỡ thất hẹn ngày mai?
Chỉ tại anh mà trời thu đổi gió
Mimosa… phủ kín mặt đường khuya
Vương đầy tóc em bắt đền anh đó
Gỡ dùm đi, đứng cười mãi… ô kìa!

Chỉ tại anh em về nhà không ngủ
Trằn trọc hoài thao thức suốt một đêm
Và bỗng thấy hình như là thoáng nhớ
Đến một người… không biết lạ hay quen

Chỉ tại anh nên hôm nay dậy muộn
Sáng thứ hai bỏ mất một giờ đầu
Bốn “Công si” cô giáo già ác… gớm
Còn bắt em chép phạt mấy traăm câu!

Ngày-thứ-tám em ngồi vào chép phạt
Mấy trăm câu mà chép mãi không xong
Bà giám thị cầm giấy xem chỉ thấy:
- Chúa nhật này “Trẫm” nhớ Ái-khanh không?
(Trẫm Nhớ Ái-Khanh Không)
Ưu điểm nổi bật nhất ở NHẤT-TUẤN là sự chân thành ngây thơ. Chẳng những chàng thành thật khi diễn tả, mà còn thành thật cả khi tự phê . Chính đặc điểm ấy đã giúp cho thơ chàng có năng lực truyền-cảm nhẹ nhàng, tâm-hồn chàng đã hòa đồng với những tâm-hồn tri-âm đồng điệu.
Tuy nhiên về nghệ thuật, Nhất-Tuấn chưa đạt đến mức cao độ, cũng như chưa tạo cho thơ mình một bản sắc độc đáo. Xen lẫn trong những vần thơ duyên dáng, khả-ái, rất nhiều vần thơ ngây ngô, lủng củng làm cho người dễ dãi đến đâu cũng phải bực mình. Ai đọc đến những câu:
“Người ta… mấy kẻ giàu sang
Nên bao nhiêu những mộng vàng đều xong”
Hoặc những câu mộc mạc gần như thơ “chàng nhái”:
Rồi… rồi… có một tối nào
Tôi bước chân vào buồng cô dâu
(Chiếu Hoa Gối Đào)
Mà không thấy “cụt hứng” và đâm ra nghi ngờ chân tài của thi-sĩ. Vì lẽ đó, khi đọc thơ NHẤT-TUẤN đăng rải rác ở các báo, ta không đặc biệt chú ý vì nó cũng giống như bao nhiêu bài thơ lãng mạn, trữ tình nhan nhản ở các phụ trương báo hằng ngày của những chàng học-sinh sầu mộng. Phải đọc thơ NHẤT-TUẤN lien tục nhiều bài như đọc một quyển truyện dài, bao nhiêu nguồn cảm hứng của thi-sĩ tập trung lại để thể hiện nhất trí một tâm hồn yêu đời, ta mới thấy thơ NHẤT-TUẤN hàm súc một sự quyến rũ tế-nhị, gieo cho tâm hồn một số bạn trẻ những thoáng buồn nhẹ nhàng man mác…
Bây giờ thì tôi đã hiểu rõ tại sao tập TRUYỆN CHÚNG MÌNH bán chạy. HIỆN TƯỢNG NHẤT-TUẤN làm cho ta hiểu rõ thêm về thời đại chúng ta.
Trong tạp chí Bách-Khoa số kỷ niệm Đệ ngũ chu-niên, nhà văn Võ-Phiến đã nêu lên một nhận xét về hiện tình văn-nghệ Việt-Nam: “Nói về một sự yêu thương thôi, ở mỗi thời sự rung động ái tình cũng có khác nhau cho nên trước đây vài mươi năm, giới thanh-niên của ta chép thơ Xuân-Diệu, thơ Nguyễn-Bính vào vở chớ không phải nâng niu những câu Kiều của Nguyễn-Du”.
Trong tập san TIN SÁCH số 4, Bộ 3, ông Nhất-Anh bổ túc ý trên: “ Và người ta không lấy làm lại khi thấy hôm nay, những thanh-niên yêu thơ lại chịu gò mình chép thơ Nguyên-Sa, Thanh-Tâm-Tuyền, Trần-Dạ-Từ, Vương-Tân, Thế-Viên… mà lại gạt những Xuân-Diệu, Huy-Cận, Nguyễn Bính, Tế Hanh sang một bên”
Các nhà phê bình trên qua chủ quan nên không nhận chân được thực tế. Sự thật, nếu các ông hiểu giới thanh-niên của chúng ta hơn, các ông sẽ không thể thốt ra những lời nồng nhiệt, đầy tin-tưởng ấy. Các ông đâu biết rằng thanh-niên của thế-hệ chúng ta – ngay giữa thời kỳ ly loạn này – vẫn thích chép thơ của Xuân-Diệu, Huy-Cận, Nguyễn Bính tiền chiến, chớ họ không hề chép thơ của Thanh-Tâm-Tuyền, Trần-Dạ-Từ, Vương-Tân, Thế-Viên, v.v… Rồi giờ đây họ lại chép them thơ Nhất-Tuấn nữa.
Thật là lạ! Vấn đề này, tôi xin nhường lại cho những nhà giải phẫu tâm-lý thanh-niên thời đại chú tâm phân tích. Tôi chỉ muốn nói rằng: Nhất-Tuấn, dầu nghệ-thuật chưa sánh kịp Nguyễn-Bính, Nguyễn-Xuân-Huy (những nhà thơ đồng khuynh-hướng), chàng cũng đã bắt đúng mạch thời-đại và chiếm được tình cảm của một số thanh-niên và học-sinh hôm nay. Cảm-tình ấy có bền vững hay không, đó lại là chuyện khác.
THẨM-THỆ-HÀ
(tạp chí Phổ-Thông)

< Được sửa bởi: hodinhvu lúc 1/10/2010 4:04:49 AM >

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 175
Nhất Tuấn - 1/29/2010 12:19:42 AM   
hodinhvu

 

Thành viên đang: offline



Thơ, Văn, Nhạc

Giáng Sinh



(Viet Tide số 440)




Hôm nay thời tiết đã vào mùa đông và lòng người cũng như ảnh hưởng theo. Chúng ta lại có thêm một Giáng sinh ở xứ người và hình như bất cứ ai trong chúng ta đều có những nỗi niềm riêng tư, những kỷ niệm không quên về thời điểm ấy. Từ quê nhà sang đến xứ người, trong tâm tư dồn chứa bao nhiêu điều tích lũy, có khi muốn nói mà chưa diễn tả hết. Cũng may, chúng ta còn có những nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, cảm chung nỗi niềm và dùng nốt nhạc, câu thơ, lời văn để chia sẻ với chúng ta. Giở những trang sách, nghe lại những băng nhạc để thấy những dòng nhạc, những bài thơ, những truyện ngắn và tác giả của nó qua chủ đề Giáng sinh.
Đối với tín đồ Thiên Chúa giáo, ngày Giáng sinh có ý nghĩa thiêng liêng lắm. Nhưng còn người theo đạo ông bà như phần đông người Việt Nam thì ra sao? Có cảm nghĩ gì về ngày lễ Noel Thiên Chúa ra đời?
Với đại đa số dân chúng, lễ Giáng sinh được coi như một ngày lễ lớn của dân tộc và đó là một nét văn hóa đẹp của chúng ta. Ngày lễ Noel như một ngày lễ của tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo.Trong sinh hoạt xã hội và cả sinh hoạt về văn học, ngày lễ ấy có một vị trí rất quan trọng. Mặc dù Thiên Chúa Giáo mới du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 19 cho tới nay, nhưng lễ giáng sinh đã trở thành một ngày lễ nhân gian của cả nước. Và riêng tôi, có ý nghĩ rằng tôn giáo nào cũng tốt cũng dạy người ta làm việc thiện nên những ngày lễ là những ngày nhắc nhở tất cả mọi người đi trên con đường tu thân tu tập ấy..
Thời điểm này là thời điểm của nhạc Giáng sinh. Ở khắp nơi đều vang vang những bản nhạc quen thuộc. Nghe nhạc, biết là mùa Giáng sinh về.
Về nhạc ngoại quốc hay thánh ca Giáng sinh quen thuộc với người Việt Nam thì White Christmas, Holy Nights, Santa Claus is coming to town, Jingle Bells, Feliz Navidad, The Little Drummer Boy, Ave Maria,…Còn nhạc Việt thì nhiều lắm, nào Đêm Thánh Vô Cùng, Đêm Đông Lạnh Lẽo Chúa Sinh Ra Đời, Mùa Sao Sáng, Chiều Bên Giáo Đường, Kinh Chiều, Bài Thánh Ca Buồn, Tà Áo Đêm Noel... Còn nhạc phổ từ thơ thì Tha La Xóm Đạo, Mimosa Thôi Nở, Nguyện Cầu, Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím. ..
Chúng ta thấy không khí của Giáng sinh trong ngần ấy những bài hát không? Trên truyền hình, trên đài phát thanh, trên những chương trình DVD, CD... hay trong quán cà phê, trong các thương xá, mọi nơi mọi chỗ, không khí Giáng sinh tràn đầy trong những dòng nhạc ấy.
Và trong những bài thơ, có biết bao nhiêu thi sĩ đã nhân ngày lễ này để viết lên tâm sự của mình. Phải kể đầu tiên đến thơ Hàn Mặc Tử.

Ông là một thi sĩ lớn của thi ca Việt Nam. Ông làm thơ bằng cả cuộc đời đau đớn của mình, bằng bệnh tật ác nghiệt phong cùi dày vò thể xác ông. Mỗi mùa trăng là mỗi lần ông bị chết điếng trong đau đớn khi vi trùng Hansen đục khoét trong xương tủy. Thơ của ông kết tinh từ những cảm giác ấy, từ những nỗi bất hạnh tột cùng của thể xác tận tâm hồn. Thơ của ông là:
“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
mỗi lời thơ đều dính não cân ta
bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
như mê man chết điếng cả làn da
cứ để ta mênh mang trong vũng huyết…”

Ông mất khi 28 tuổi sau chuỗi ngày bệnh tật đau đớn. Mộ của ông được chôn ở nghĩa trang Quy Hòa chỉ cách trại cùi có hơn 200 thước và sau được gia đình với sự phụ giúp của nhà thơ Quách Tấn đem cải táng tại bãi biển Ghềnh Ráng gần tỉnh Quy Nhơn. Mộ của ông được coi như một thắng cảnh trong vùng và được nhắc nhiều đến trong văn chương và âm nhạc. Linh mục Trần Quý Thiện đã mô tả như sau:
“Mộ phần Hàn Mặc Tử được kiến trúc hình chữ nhật. Trước mộ là một cây thánh giá lớn bằng xi măng cao 0m50. Trên đầu bia mộ là tượng Đức Mẹ Maria hai tay giang rộng mắt nhìn xuống mộ vì trước khi chết Hàn Mặc Tử ước mong được một lần trong đời đến kính viếng Đức Mẹ tại thánh địa La Vang Quảng Trị nhưng không thực hiện được. Bước lên ba bậc tam cấp hiện nay du khách có thể nhìn thấy trên tấm bia mộ ghi rõ tên thánh, họ và tên nhà thơ, ngày sinh và ngày tử cùng tên cha mẹ và anh chị em lập bia mộ. Năm 1991, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh ( tức ca sĩ Nhật Trường người viết bản nhạc Hàn Mặc Tử) cùng một số anh chị em nghệ sĩ trong nước đã bảo trợ kinh phí để ban Giám Đốc trại phong cùi Quy Hòa xây một đài tưởng niệm nơi nhà thơ được an táng đầu tiên tại Khe Nước Ngọc nghĩa trang Quy Hòa và một nhà Lưu Niệm Hàn Mặc Tử cũng được thiết lập ngay tại địa điểm mà nhà thơ trút hơi thở cuối đời.”
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã nhận định về Hàn Mặc Tử trong bộ Nhà Văn Hiện Đại như sau:
“Hàn Mặc Tử có lẽ là người Việt Nam đầu tiên làm thơ ca ngợi Thánh Nữ Đồng Trinh Maria và Chúa Giêsu. Ông ca tụng đạo Thiên Chúa với một giọng rất chân thành. Đây là lần đầu tiên thi ca Việt Nam thấy được một nguồn cảm hứng mới. Tôi dám chắc rồi đây sẽ còn nhiều thi sĩ Việt Nam đi tìm nguồn cảm hứng trong đạo giáo và đưa thi ca Việt Nam vào con đường triết học”

Chúng ta không thể nào quên khi nói đến Hàn Mặc Tử mà không nhắc đến bài thơ Ave Maria.Thi sĩ đã làm thơ với lời chào mừng trân trọng cung kính Mẹ Maria, người nữ tuyệt vời thánh thiện. Cái buốt đau của thân thể khi cầm bút với những ngón tay co quắp rút lại vì bệnh đã làm cho thi sĩ như xuất thần để quên đi thực tại và đắm mình trong một niềm tin tôn giáo vô biên.
Như sóng lộc triều nguyên ơn phước cả
Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cõi thiên đàng
Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể
Và Tổng Lãnh Thiên Thần quỳ lạy Mẹ
Tung hô câu đường hạ ngớp châu sa
Gương xông lên lời ca ngợi sum hòa
Trí miêu duệ của muôn vì rất thánh
Maria ! linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thnah vẹn
Giàu nhân đức giàu muôn lộc từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế
Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ
Giọng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua
Trí tôi ướp bao nhiêu là khi vị
Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí
Và trong tay nắm một nạm hào quang..”

Nếu nói Hàn Mặc Tử là một nhà thơ Công giáo, liệu nhận định ấy có chính xác không? Có người đã đặt câu hỏi ấy.
Đã có một nhận định khá chính xác tương tự như vậy. “Với Hàn Mặc Tử, thơ là một nét nghệ thuật cao độ đi vào chủ nghĩa siêu linh, là cõi xuất thế, là bến trăng sao an toàn cho con người ẩn náu khi sống trong tuyệt vọng khổ đau trong cô đơn của của nhân tình thế thái. Không ai có thể phủ nhận nét Công giáo trong thơ Hàn Mặc Tử vì chính ông đa mở rộng biên giới thi ca Việt nam bằng những sáng tạo độc đáo mà nền giáo dục Công giáo từ cha mẹ, gia đình, trường Pellerin và gương sống các nữ tu Phan Sinh đã hun đúc hồn thơ của ông. Trong những ngày cuối đời, ông đã sống như một nhà tu thực sự ,cuộc sống chìm lặng trong câu kinh, lời nguyện pha lẫn với những đớn đau do bệnh phong hành hạ. Chính nhà thơ đã thổ lộ” Trong những ngày cuối đời, tôi chỉ biết ngâm thơ và cầu nguyện mà thôi…”

**
Thơ Giáng sinh mà lãng mạn trẻ trung nhất phải kể đến nhà thơ Nhất Tuấn và Truyện Chúng Mình. Năm nay kinh tế suy trầm, chắc cũng phải cảm giác nhẹ nhàng như vậy để quên đi những lo lắng mệt mỏi cuối năm.
Ngày trước 1975, Nhất Tuấn là một nhà thơ mặc dù là quân nhân nhưng làm thơ trẻ trung mùi mẫn nhất và cũng được phổ nhạc bay bướm nhất.
Truyện Chúng Mình của Nhất Tuấn có những bài thơ được phổ nhạc: “Chúa nhật này trẫm nhớ ái khanh không?”, Nguyễn Đức Quang phổ nhạc),” Con quỳ lạy Chúa trên trời”( Phạm Duy phổ bài thơ Cầu Nguyện), “ Mimosa thôi nở ” (Đan Thọ phổ nhạc), ”Xin trả Lại Em”( Hoàng Lang phổ nhạc),” Hoa Học trò”, “Niềm Tin” ( Anh Bằng phổ nhạc)…
Tổng cộng có hơn 40 bài thơ được phổ nhạc trong thời gian từ 1959 đến bây giờ. Ông là một sĩ quan cấp tá tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt, làm quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội. Nhưng thơ của ông được giới trẻ ưa thích vì có những tâm tình ngôn ngữ trẻ trungthơ mộng giống họ. Tập thơ Truyện Chúng Mình gồm 5 tập và được coi là một tập thơ có nhiều độc giả nhất. Truyện Chúng Mình kể về chuyện đôi lứa. Nhưng cũng có nhiều bài thơ về Giáng sinh và lại được phổ nhạc nữa.

Trong cái không khí lạnh lẽo của mùa đông, nghe bản nhạc phổ thơ Nhất Tuấn do nhạc sĩ Đan Thọ: ” Mimosa thôi nở” làm cho người ta hay nghĩ về quá khứ. Có chút tình tứ lãng mạn dù hơi buồn một chút vì “tình chan chứa” mà …“ mộng không thành”!
Bài “Mimosa Thôi Nở” với những câu:
“Noel xưa anh nhớ
khi hãy còn yêu nhau
nhà thờ nơi cuối phố
thấp thoáng sau ngàn dâu
anh chờ em đi lễ
chung dâng lời nguyện cầu
mimosa bừng nở
đẹp như tình ban đầu
Đà Lạt mờ trăng lạnh
Đường về ta bước mau..”
Cùng nhau đi lễ Noel, hỏi nhau về ước vọng xưa sau. Em nắm tay anh và hồng đôi má. Sao tình tứ quá. Nhưng…

Kết cuộc bài thơ đích thị là một chuyện buồn bã dở dang :

“ mới bốn mùa thu qua
mimosa vẫn nở
sao mối tình đôi ta
ai làm cho dang dở
đêm này Noel đây
chuông nhà thờ khắc khoải
gió đồi lang thang bay
mưa buồn giăng ngõ tối
anh quỳ bên tượng Chúa
cúi đầu chắp hai tay
lạy chúa con chờ đợi
người ngày xưa về đây
nhưng em không về nữa
đường khuya mưa bay bay
Mimosa thôi nở
Trong hồn anh đêm nay.

Nhạc sĩ Đan Thọ phổ bài thơ này thành nhạc làm bao nhiêu con tim thanh xuân nhức nhối. Một bản nhạc khác từ bài thơ “Con quỳ lạy chúa trên trời” mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thì cũng hay không kém.

Bài thơ lục bát “Cầu nguyện”, bài thơ đầu của tập thơ Truyện Chúng Mình tập 1, được chuyển thể cũng lãng mạn tình tứ không thua “ Mimosa thôi nở”.
Bài thơ ấy nguyên văn như sau với một câu chuyện kể lại bằng thơ, rất mộc mạc nhưng lại gần gũi với cuộc đời thường. Cũng là chuyện một chàng trai quỳ bên tượng chúa cầu nguyện cho có được giai nhân cùng mình chung sống đến cuối đời . Nhưng lại là cuộc chia phôi. Vì người tình đã bỏ đi. Thơ man mác, tuy chỉ buồn thôi và vắng giọt nước mắt. Thơ nén trong tim những nỗi buồn bằng ngôn ngữ đơn sơ :
“ Con quỳ lạy Chúa trên trời
để cho con thấy được người con yêu
đời con đau khổ đã nhiều
kể từ thơ dại đủ điều đắng cay
số nghèo hai chục năm nay
xây bao nhiêu mộng trắng tay vẫn nghèo
mối tình đầu chót bọt bèo
vì người ta thích chạy theo bạc tiền
âm thầm trong mối tình điên
cầm bằng Chúa định nên duyên bẽ bàng
bây giờ con gặp được nàng
không giàu, không đẹp không màng lợi danh
chúng con hai mái đầu xanh
chắp tay khấn nguyện trung thành với nhau
thề nhau sóng gió bể dâu
để yêu.. trước cũng như sau... giữ lời
Người ta lại bỏ con rồi
Con quỳ lạy Chúa trên trời thương con”

Mỗi lần khi Giáng sinh về, nghe lại bản nhạc ấy, tự nhiên sao tôi nhớ quá những ngày mình còn trẻ. Cũng ngây ngô và mộng ước như thế. Nhưng, chỉ là giấc mơ không thực mà thôi. Mấy ai, trong mối tình đầu tiên mà không vấp ngã.
Có người hỏi, chứ không phải là thi sĩ thường hay dùng cái lối “thơ viết đừng xong, thuyền xuôi chớ đỗ/ cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa” như Hồ Dzếnh sao? Ông thi sĩ nào cũng kêu ầm lên thất tình như một cái mode. Như trường hợp thi sĩ Nhất Tuấn, đào hoa trong đời thường nhưng vẫn rên lên vì bị thất tình và người yêu phụ rẫy…
Thơ phổ nhạc của Truyện Chúng mình còn nhiều lắm. Đơn cử như bài “Niềm Tin” chẳng hạn. Thơ được phổ nhạc và được hát mỗi mùa Giáng sinh từ trước năm 1975 ở trong nước và sau năm 1975 ở hải ngoại.

“ Lại một Noel nữa
mấy mùa giáng sinh rồi
anh ở đồn biên giới
thương về một khung trời
chắc Đà Lạt vui lắm
mimosa nở vàng
anh đào khoe sắc thắm
hương ngào ngạt không gian
mấy mùa giáng sinh trước
chỗ hẹn anh chờ hoài
lần này không về được
hồi hộp đợi tin ai
em biết không đời lính
nắng sớm với sương chiều
gió rừng rồi mưa núi
đã làm anh vui nhiều
ở đây anh chờ sẵn
đón thánh lễ truyền thanh
xin Chúa ban ơn xuống
cho em và cho anh
cũng cầu cho thế giới
cho nhân loại hòa bình
cho đôi ta gặp lại
trong một mùa giáng sinh.”

Nhạc sĩ Anh Bằng đã phổ nhạc bài thơ này. Vẫn ngôn ngữ bình thường ý tứ đơn sơ nhưng lại tạo được sự thích thú cho người nghe chính vì cái đơn giản, dễ hiểu, dễ cảm ấy.
Ưu điểm nổi bật nhất của Nhất Tuấn là sự chân thành đến nỗi ngây thơ. Trong cái hồn nhiên của tuổi trẻ, thi sĩ thi vị hóa những hành động vụng dại của những người trẻ yêu nhau. Chúng ta, thời tuổi trẻ ai mà không có những lúc ấy, lúc mà con tim thôi thúc để vượt qua những rào cản kỷ luật của trường học và trường đời. Bài thơ này cũng được phổ nhạc và cũng là một bản nhạc làm xao xuyến bao nhiêu con tim đang yêu đang mộng:

“ Chỉ tại anh nên hôm qua về trễ
cứ “phim hay tài tử trứ danh” hoài
anh quảng cáo và “ tô màu’ giỏi thế
hỏi ai còn nỡ thất hẹn ngày mai?

Chỉ tại anh nên trời thu đổi gió
Mimosa.. phủ kín mặt đường khuya
Vương đầy tóc em bắt đền anh đó
Gỡ giùm đi, đứng cười mãi.. ô kìa

Chỉ tại anh em về nhà không ngủ
Trằn trọc hoài thao thức suốt một đêm
Và bỗng thấy hình như là thoáng nhớ
Đến một người.. không biết lạ hay quen

Chỉ tại anh nên hôm nay dậy muộn
Sáng thứ hai bỏ mất một giờ đầu
Bốn “ công si” cô giáo già …ác gớm
Còn bắt em chép phạt mấy trăm câu

ngày thứ tám em vào ngồi chép phạt
Mấy trăm câu mà chép mãi không xong
Bà giám thị cầm giấy xem, chỉ thấy:
-Chủ nhật này” Trẫm “ nhớ Ái Khanh không?

Hồn nhiên, vô tư, ngây thơ, táo tợn, nhưng lại dễ thương! Cô gái trẻ đang yêu của thơ Nhất Tuấn.
Tập thơ Truyện Chúng Mình chỉ là chuyện riêng của ông và người tình thôi mà sao lại được hâm mộ đến như thế?
Tuy tập thơ ấy chỉ là kể chuyện riêng của hai người nhưng đọc thơ xong độc giả sẽ tưởng rằng có mình ở trong đó và chữ “ chúng mình” là của riêng người đồng điệu chứ không phải ai khác. Xem thơ mà tưởng có mình ở trong, vì lời thơ hồn nhiên, ý thơ thành thật, điệu thơ nhẹ nhàng như ngầm chứa nhạc tính ở trong. Thơ viết về những kỷ niệm, rất bình thường vì có thể ai cũng có kỷ niệm và tâm sự như thế. Tình yêu trẻ trung thường đẹp và gợi nhớ đến những giấc mộng ngây thơ. “ Truyện Chúng Mình” có nhiều độc giả ái mộ không phải là chuyện lạ!
Có rất nhiều người đồng điệu đã xẻ chia ý nghĩ với thi sĩ Nhất Tuấn. Thái Thủy, Đỗ Tấn, Thẩm Thệ Hà, Thanh Nam ,.. và nhất là Đinh Hùng:
“.. Bài thơ đầu tiên của nhân loại là một bài thơ tình giữa Adam và Eve. Kẻ nào không biết yêu hoặc không thể yêu được nữa là kẻ bị thiệt thòi nhất. Cộng sản cũng chỉ vì không biết thương yêu, không có thơ tình, không biết bói tiếng “anh” và tiếng “Em” cho ngọt ngà uyển chuyển cho nên mới làm nhiều chuyện phi nhân.người chiến sĩ phụng sự cho Tự Do Chính Nghĩa từ trong tâm linh chính là người chiến sĩ vẫn hằng ấp ủ một bài thơ tình diễm tuyệt để tặng “Em”…Tôi chờ đợi Truyện Chúng Mình của Nhất Tuấn như một kẻ tình nhân chung thủy chờ đợi tình thư của người yêu. Chắc rằng tất cả những người” đã yêu , đang yêu và sắp yêu” cũng sẽ tìm thấy phần nào bóng dáng tâm hồn họ khi đọc Truyện Chúng Mình…

**
Ngày mười bảy tuổi, thi sĩ thành một người trưởng thành sớm hơn tuổi để trong dịp Giáng Sinh cao giọng cất rao lời kêu gọi loài người. Thơ chững chạc trong sự suy nghĩ của một cậu bé òa vỡ những cảm giác của một thời những giấc mơ, những mộng uớc của mai sau:

“Hỡi loài người hãy quỳ gối cùng tôi
đêm nay sẽ thấy ý đời trở lại
đêm nay sẽ thấy ý đời thôi khổ ải
sẽ thấy đời tràn ngập cảnh yêu thương
những tràng chuông dồn dập giữa đêm trường
cùng bao ánh mắt dịu hiền trao trả
hỡi loài người hãy cùng tôi quì gối
đón hòa bình trong sóng nhạc đêm nay
mỗi âm thanh là ánh mặt trời này
ôi bất diệt hòa bình ơi bất diệt”

Tôi đọc bài thơ Giáng sinh ấy trong tập thơ “Sinh nhật của một người không còn trẻ” của nhà thơ Lữ Quỳnh. Cái cảm giác “không còn trẻ” có phải là chưa về già, hình như trong tâm cảm và thơ có điều gì, nửa như tiếc nuối, nửa như nhớ về. Ở đời thường, thi sĩ là một người dễ mến với nụ cười trên môi qua đôi mắt long lanh sau đôi kính cận. Thế mà, đọc thơ sao nghe như có một điều gì lặng lẽ tha thiết trong tâm. Thơ là ngôn ngữ của lặng thầm, và là những hồi ức mà suốt đời thi sĩ không bao giờ quên được. Thời gian mấy chục năm, đối với lịch sử đất nước chỉ là một chớp mắt. Nhưng với một đời người, thì lại là khoảng cách rất lâu. Thi sĩ đã đi và về, trong khoảng cách ấy bằng thơ. Nếu nói thơ là đời sống, không biết có phải là nhận định vội vàng không? Ở cảm quan của một người đọc, tôi thấy như vậy!
Những câu thơ đã thành ý tưởng tiền chế cho một cảm giác chia sẻ, để như thấy lại một không gian cũ, một thời gian xưa. Thơ không phải kể chuyện đời sống, mà, chính nó là cuộc sống.

Sinh nhật tôi
Một ngày tháng chạp
Những ngọn nến thắp
Là hồi ức buồn.

Những người sinh vào tháng chạp, ở thời điểm cùng tận của một năm đã thắp lên một ngọn nến để soi tỏ lại dung nhan cái hồi ức của mình. Giản dị chỉ có vậy, nhưng trong liên tưởng tôi thấy bàng bạc một mùa đông. Một nỗi niềm nào từ không gian, thời gian lan tỏa tới làm bước chân quay trở lại về quá khứ. Không gian ấy, thời gian ấy, có phải là vương quốc của thơ đang ngự trị?
Một nhận xét đầu tiên, là một nghịch lý. Trong khi chúng ta nói về tình yêu lúc tuổi trẻ và thời thế lúc tuổi già. Thì ngược lại, Lữ Quỳnh đã làm thơ để suy nghĩ về đời sống, nói lên những cảm nhận về thời cuộc lúc còn trẻ, rất trẻ. Và, ông làm thơ về tình yêu với những tình cảm trầm lắng vào lúc tuổi già. Nếu không có những dòng ghi ngày tháng sáng tác ở cuối mỗi bài thơ, có lẽ tôi sẽ bị sai lầm mà nghĩ theo lệ thường như vậy…Trẻ và già, ở tùy từng người. Có khi trẻ ở tuổi bảy mươi tám mươi và già ở tuổi hai mươi, hai mốt. Điều đó, đâu có gì là lạ lùng, nhất là đối với những thế hệ đã trải qua nhiều biến động thử thách của thời thế như Lữ Quỳnh. Với người thơ, cái ý niệm thời gian và không gian có khi chỉ là biểu kiến. Thơ vượt qua những khoảng cách tháng năm, có thể chứ sao không? Trong cảm giác của người đọc thơ, tôi lờ mờ thấy qua con chữ những ngỏ lời rất lặng thầm nhưng lại hằn dấu trong tâm thức, Thơ về hồi ức hay là hồi ức, tôi tự hỏi khi đọc từng bài trong “Sinh nhật của một người không còn trẻ”. Bài thơ trên tác giả làm vào dịp Giáng sinh năm 1956, đất nước chưa chiến tranh nhưng không hiểu tại sao một cậu bé như thế lại viễn kiến xa hơn một tương lai sẽ đến của một đất nước khói lửa…

(Còn một kỳ)

NGUYỄN MẠNH TRINH

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 176
RE: Nhất Tuấn - 1/29/2010 12:21:52 AM   
hodinhvu

 

Thành viên đang: offline

(Tiếp theo và hết)


Viết về các văn thi nhạc sĩ qua đề tài giáng sinh tuy tạo nhiều thích thú nhưng khó có có thể đầy đủ được. Thực ra có rất nhiều thi, văn, nhạc sĩ có những tác phẩm về ngày lễ này rất hay và độc đáo nhưng chúng tôi vì bài viết có hạn nên chỉ đề cập đến một vài tác giả tiêu biểu mà thôi. Nhưng điều cốt tủy là chúng tôi muốn chia sẻ với cuộc đời, với thời tiết, với nhân loại những tâm tư và ý nghĩa của ngày Chúa sinh ra đời. Và tất cả đã thể hiện trong những tác phẩm xuất hiện có thể từ thời tiền chiến , thời kỳ hai mươi năm văn học miền Nam hoặc văn học ở hải ngoại…
Có người đã nhắc nhở đến nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên và các bài thơ về Giáng Sinh của ông. Trong không khí của ngày Noël năm nay, có lẽ chúng ta cũng nên nhắc lại những bài thơ ấy .
Nguyễn Tất Nhiên có những bài thơ rất lạ. Hình ảnh của Chúa và Đức Mẹ được nhà thơ xử dụng phương cách độc đáo, chuyên chở được tình cảm một cách dễ thương. Từ “ Vì tôi là linh mục” đến “ Chuông mơ”, rồi “Em hiền như ma soeur” đến “Hai năm tình lận đận”, thơ và nhạc hình như đã bổ túc cho nhau để làm nổi bật hơn cá tính của người thơ. Thuở sinh thời, ông thường bực bội vì nghĩ rằng độc giả chỉ biết đến Nguyễn Tất Nhiên qua những bản nhạc mà ít để ý đến cốt tủy là chính những bài thơ của ông. Những bài thơ mà ông cho là biểu hiện rõ nét thi ca của ông. Những câu thơ tràn đầy nhạc tính và cũng chan chứa thi tính..
Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và đã làm ông nổi tiếng.
Như bài thơ nhan đề “Nguyện làm cây thánh giá” đăng lần đầu tiên trên tạp chí Văn số Giáng Sinh năm 1972 và sau đổi thành “Hai năm tình lận đận” và Phạm Duy phổ nhạc. Bài thơ ấy có đoạn như sau:

“.. em bây giờ có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ có lẽ
nên làm người tình thua
nhà thờ chuông đổ chậm
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
Rơi xuống trần gian, mưa
( dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
làm đàn ông…dại khờ)
anh bây giờ có lẽ
thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh giá
trên chót đỉnh nhà thờ
cô đơn nhìn bụi bặm
làm phân bón rêu xanh
( dù sao cây thánh giá
cũng được người nhân danh)
hai năm tình lận đận
em đã già hơn xưa.”

Chỉ có hai năm lận đận cuộc tình thôi mà nhà thơ bắt “em” già đi thì hơi ác! Ở thơ, có một điều gì buồn buồn, nhẹ nhàng và hơi chút mỉa mai. Còn ở nhạc, thì có vẻ ngây thơ lãng mạn hơn.
Với tôi, khi đọc thơ, lại cảm vì những chi tiết rất đời thường nhưng lại tạo được nét mới lạ.Từ trước tới giờ, có lẽ chưa có ai có ý nghĩ như Nguyễn Tất Nhiên: “dù sao thì Chúa cũng có một thời .. trai tơ” “dù sao thì Chúa cũng làm đàn ông dại khờ.” Chính cái nét ngang ngang khác người ấy làm bài thơ sinh động. Còn khi nghe nhạc thì cảm giác khác hơn. Cái nét ngang ngang tinh nghịch ngầm không giống ai ấy biến dạng đi. Và thay thế là cảm giác của sự trẻ trung đầy nét lãng mạn. Đó là nhận xét thô thiển của riêng tôi, khi đặt mình vào vị trí người thưởng ngoạn…
Có một tập thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên mà hình bìa là hai háp giáo đường cao vút với bức tranh ủa họa sĩ Nguyễn Thị Hợp. Đó là tập thơ Chuông Mơ mà Nguyễn Tất Nhiên xuất bản vào dịp Giáng Sinh năm 1999. Bài thơ mà nhan đề được chọn cho tập thơ là bài thơ gửi về cho người xưa còn ở Việt Nam

“ chiều nay em còn mảng tóc mai
hay đã lao tâm luống bạc rồi
chiều nay vừa đến giờ tan học
hay vừa buông cuốc chặm mồ hôi?
Chiều nay em bước trên quê hương
Chắc tóc không còn óng ả chuông
Chắc chuông không mượt nâng tà tóc
Chắc tóc và chuông đã… đoạn trường!
Chiều nay em trên quê hương
Chắc Chúa chẳng nhìn như mọi hôm
Bởi vì mắt Chúa và em đã
Lóng lánh vùi chôn lệ ngấn lòng
Aùo trắng cả sân trường trắng
Tan học trong đời anh thẩn thơ
Đời anh quên , nhớ, quên, nhiều lắm
Chiều chiều xứ Mỹ cũng chuông mơ.”

Thơ Giáng Sinh của Nguyễn Tất Nhiên chắc còn nhiều lắm .
Nhiều bài thơ khác như “ Em hiền như ma soeur”. “ Vì tôi là linh mục”… cũng được phổ nhạc thành những bài hát mà chưa bị thời gian làm cho phai phôi…
Thơ tình Giáng Sinh còn có bài nào khác của thi sĩ khác làm tôi thích thú. Tôi có đọc một bài thơ của nhà thơ Trần Vấn Lệ. Ngày Giáng Sinh, giở đúng bài ”Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình yên dưới thế cho người tôi thương” thì đúng là thích hợp quá rồi còn gì!!! Cái nhan đề gợi lại một điều gì tuy quen mà lạ, tuy dài mà ngắn. Nó gợi lại một giây phút của hai người tình nhân xưa sau hai mươi năm gặp lại trong ngày Giáng Sinh. Chỉ có như vậy, nhưng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên như những lời kể chuyện và nhất là man mác trong đó nỗi niềm hoài vọng. Hoài vọng một thời đã qua. Hoài niệm mối tình đã lỡ..
Bài thơ gồm 14 đoạn mỗi đoạn 4 câu. Khá dài nhưng là một truyện kể của một người đã luốn tuổi nhưng vẫn còn vương vấn mối tình xưa khi gặp người tình cũ.
“ ngày này năm ngoái nhớ không em?
Mình gặp nhau qua một cái nhìn
Mười bảy năm trời trên đất Mỹ
Vẫn là ánh mắt tối Noel
ôâi em kinh ngạc trông mà tội
anh cũng tội gì cứ đứng run?
Em vẫn là em cô gái nhỏ
Và anh vẫn vậy , lính băng rừng
Hai mươi năm cũ như cơn mộng
Mười bảy năm trời một tiếng kêu
Rất khẽ. Bởi lòng hai đứa nghẹn
Dù đêm ròn rã tiếng chuông reo
Lạy Chúa cho con gặp lại người
ôâi lời anh thốt giống em thôi
Đưa tay muốn nắm mà không được
Đối diện trời ơi lỡ hết rồi
Lỡ hết rồi em! Lỡ hết anh
Em mừng sao mắt lệ long lanh
Anh mừng mắt chớp sau làn kính
cảm tạ trời! Con đã đứng im
dăm ba câu hỏi như bè bạn
em tiếp đường em, anh bước lui
mình gặp nhau đây không ước hẹn
tình cờ em nhỉ chuyện vui vui
chuyện vui tình ý ai không biết?
Thôi giả đò rm nhé , Chúa thương
Anh giả đó than hoàn cảnh khổ
Để em dìu dịu” mắt Tây phương”
Bài thơ đôi mắt người Sơn Tây
Em chép ngày xưa” kính tặng thầy”
Anh nhắc một câu mà nuốn khóc
Một năm đằng đẵng mắt còn cay!”

Sau một năm kể từ giây phút gặp gỡ ấy , người thơ vẫn còn cảm xúc. Và đến tối Noël năm sau , thì cảm giác ấy lại càng rõ nét.

” Hồi năm ngoái đó với bây giờ
anh giật mình như tỉnh giấc mơ
trọn tối Noel nhìn ảnh Chúa
tưởng chừng đôi mắt của người xưa
em nhớ hay là em đã quên
lạy trời em mãi mãi bình yên
anh làm thầy giáo rồi đi lính
lết tới quê người đạn trúng tim
thôi lỡ rồi em lỡ hết rồi
đường Em đi tới –Con Đường Vui
đường anh trở lạnh đêm năm ngoái
gục xuống quỳ ôm Chúa ngậm ngùi
tha hương kỳ ngộ, ôi lòng Chúa
xin hãy vì người conmến thương
chấp nhận những điều con khấn nguyện
cho nàng hạnh phúc ở nhân gian
em ơi anh tắt từng cây nến
hai chục năm mờ bóng cố nhân
chuông giáo đường vang,tim Chúa đập
đường Em đi tới rộn ràng xuân
đường anh trở bước trăng soi sáng
vẫn bóng trăng rằm quá khứ xưa
đôi mắt Sơn Tây thời lãng mạn
dụi hoài cứ ướt những câu thơ..”

Có một bài thơ khá nổi tiếng của một nhà thơ người miền Nam Bộ. Bài thơ ấy cũng được phổ nhạc bởi nhạc sĩ Huỳnh Anh và nhạc sĩ Anh Bằng. Một bài thơ mà thành hai bản nhạc. Đó là bài thơ “ Hoa trắng thôi cài trên áo tím” bài thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà.

Nhà thơ khi ăn mừng thượng thọ 81 tuổi đã mang bức di ảnh của người xưa để công bố một hình bóng nàng thơ áo tím, một nhân vật có thực của đời mình và là một hình bóng thân yêu trong bài thơ. Theo bài viết đăng trên website của nhà văn Lê Thiếu Nhơn thì nàng thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà (tên thật là Trương Khương Trinh) là bà Nguyễn Thúy Nhiều, người bạn học của chàng hay đi ngang qua nhà thờ mỗi khi xem lễ với tà áo tím. Hà Huy Hà đã mang hình ảnh ấy vào thơ với cảnh giáo đường, với chuông nhà thờ. Và ông cũng lồng vào khuôn cảnh một thời tao loạn để có cảnh tử biệt sinh ly. Thơ Kiên Giang Hà Huy Hà rặc ròng âm hưởng Nam Bộ, có lúc thật giống với thơ Nguyễn Bính nhưng cũng có khi y khuôn như những câu ca dao của miền sông nước Cửu Long.Về khuynh hướng chính trị, Kiên Giang thiên Cộng trong thời kỳ trước năm 1975 và là một người được chế độ Cộng sản cho tham dự vào các sinh hoạt văn chương sau 1975 nhưng dường như chẳng có đãi ngộ nào đáng kể mặc dù được xưng tụng là có hơn 60 năm phục vụ nghệ thuật cho cách mạng. Lúc đến tuổi hưu ông phải bán đi căn nhà nhỏ bé của mình và sinh kế cũng khá chật vật.
Bài thơ khá dài. Đoạn mở đầu:

“ lâu qúa không về thăm xóm đạo
từ ngày binh lửa cháy quê hương
khói bom che lấp chân trời cũ
che cả người thương nóc giaó đường
mười năm trước em còn đi học
áo tím điểm tô đời nử sinh
hoa trắng cài duyên trên áo tím
em là cô gái tuổi băng trinh
quen biết nhau qua tình lối xóm
cổng trường đối diện ngó lầu chuông
mỗi lần chúa nhật em xem lễ
anh học bài ôn trước cổng trường
thuở ấy anh hiền và nhát quá
nép mình bên gác thánh lầu chuông
để nghe khe khẽ lời em nguyện
thơ thẩn chờ em trước thánh đường..”

Tình yêu rồi cũng phai phôi. Nàng áo tím đi lấy chồng. Chàng nghe ròn rã chuông xóm đạo như tiễn nàng vu quy. Rồi sau đó chiến tranh, và nàng áo tím ngày xưa đã thành chiến sĩ và chết dưới bóng cờ.
Và kết cuộc
‘ Hoa trắng thôi cài trên áo tím
mà cài trên cỗ nắp quan tài
điểm tô công trận bằng hoa trắng
hoa tuổi học trò mắt thắm tươi
xe tang đã khuất nẻo đời
chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
từ đây tóc rũ khăn sô
em cài hoa trắng trên mồ người xưa.”

Nhưng, đó là bốn câu thơ cuối của bài thơ đầu tiên.Về sau này, người chồng của bà Thúy Nhiều ghen tức khi bà này đặt tên con đầu lòng bằng tên ghép của hai người: chính bà và người thơ ngày xưa. Bản sau của bài thơ, Kiên Giang Hà Huy Hà sửa lại đoạn kết bài thơ là :

“Lạy chúa con là người ngoại đạo
nhưng tin có Chúa ở trên trời
trong lòng con giữa màu hoa trắng
cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!”

Thơ Kiên Giang ngôn ngữ chất phác, những bài thơ như Xe Trâu hay Hoa Trắng Thôi Cài Trên Aó Tím nhờ sự hồn hậu bình dân biểu lộ tính tình của người dân Nam Bộ nên đã có vị trí trong thi ca Việt Nam…

***
Tức cảnh sinh tình tôi cũng có làm vài bài thơ về Giáng Sinh của đời mình. Trong đó, có bài thơ làm khi vừa từ đảo đến Mỹ định cư:

Vào thương xá giọt nhạc rơi
Giờ thánh tẩy, chợt cõi đời bù hao
Từ khi gươm súng vẫy chào
Ngẩn ngơ tiền kiếp lao đao bóng hình
Soi gương mù mịt nhân sinh
ngọn thông đèn thắp nỗi mình ở đâu?
Đứng bên hang đá u sầu
Thấy cây thập giá nỗi đau hình thành
Tượng Mẹ giọt lệ long lanh
Hồng ân thiên cổ trên cành còn treo
Chiếc xe đò cũ qua đèo
Nghe sương khói chạnh cuối chiều bâng khuâng
Đứng trên đỉnh dốc phong trần
Aùo cơ hàn cũ thế thân vẫn vừa
nhạc rơi ẩm sáng lạnh trưa
giáng sinh tôi , quạnh đêm mưa ngang đầu.

Nói về mình đã kỳ mà nói về thơ của mình lại kỳ cục hơn. Đại khái bài thơ này chỉ là tâm sự của một người sắp bước chân vào một cuộc sống mới và sẽ phải gánh nặng trong tâm một quá khứ có từ những thời gian đã qua của đời mình…
Một bài thơ khác, ghi lại một thời gian khác một kỷ niệm khác. Giáng Sinh ở Sài Gòn. Bài thơ đã để lại từ một thành phố đầy ắp trong trí nhớ những kỷ niệm.
1
Hãy xuống đường và mặc áo mới.
Chiếc áo ngày Chúa bị đóng đinh
Còn khô vệt máu

Hãy xuống đường và xưng tội
Thân phận Việt Nam.
Âm như dao sắc
Thánh ca xoáy tròn
cấu da nỗi đau có thực.

2
Giáng sinh ở Sài Gòn
Con phố không còn gió
Ngọn cờ ủ ê.
Lặng lẽ.

Giáng sinh ở Sài Gòn
Thắp trong mắt mỗi người ngọn nến nửa đêm
Đầu mang vòng gai buốt
Hân hoan hành xác mình

Giáng sinh ở Sài Gòn.
Mọi người đi ra đường
Cầm trái tim
Làm vũ khí.

Lời đồng dao của quỉ
Bắt đầu chuông báo tử mùa xuân.

3
hát cho rõ tiếng guốc nàng.
Hai mươi năm trẻ dại
Hát và thở ký ức chàng
Thác reo lũng gió
Hát và vỗ tay thế kỷ chúng ta.
Khúc hoan ca thinh lặng
Hát và long lanh hạt lệ
Giáng sinh ba mươi năm trí nhớ.

4
bây giờ nửa đêm
phơi khô dây hạnh phúc
ngọn nắng phai phai
ru tôi tóc sợi.

Bây giờ ở Sài Gòn
Tôi trốn vào đám đông
Mặt nạ che tông tích
Tự hỏi có phải là dòng sông
Trôi qua những ấu thơ tinh nghịch
Cánh cửa khuya đóng lại bình minh.

5
Giáng sinh ở Sài Gòn
nhớ ly cà phê gạo rang đắng chát.
Cho cũ một ngày.
Ngọn đèn dầu nhỏ tăm tối
Sao không thắp hỏa châu
Sân ga không tàu đợi

Giáng sinh ở Sài Gòn.
Ngực khan đám đông đau
Than vừa ngún
Bếp đỏ lửa rồi bè bạn ta ơi

Giáng sinh ở Sài Gòn
Sống lại chính chúng ta
Hàng hàng lớp lớp
Tôi phục sinh anh phục sinh
Từ dòng máu giọt…


NGUYỄN MẠNH TRINH

(Việt Tide số 441-Đặc biệt Giáng Sinh 2009)

(trả lời với: hodinhvu)
Bài thứ: 177
RE: Nhất Tuấn - 1/29/2010 12:31:02 AM   
hodinhvu

 

Thành viên đang: offline

Trong bài viết ở mục Tạp Chí Văn Nghệ của tác giả Nguyễn Mạnh Trinh, số Đặc biệt Giáng Sinh 2009, có một chi tiết đã viết không đúng. Đó là tác giả phổ nhạc bài thơ Niềm Tin được ghi là Anh Bằng thay vì đúng ra là Anh Linh.
Sau khi nhận được thư góp ý kiến, tác giả Nguyễn Mạnh Trinh đã đính chính chi tiết trên trong số báo kế tiếp.
Xin chân thành cảm tạ ông Nguyễn Mạnh Trinh và chú Nhất Tuấn.



(trả lời với: hodinhvu)
Bài thứ: 178
RE: Nhất Tuấn - 2/7/2010 7:25:28 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

THE LA...ANH LINH DA TRO VE NUOC CHUA LUC 00:15 PHUT , SANG NGAY THU BAY , 06/02/2010 TAI THANH PHO SAN JOSE, BANG CALIFORNIA.
BAY GIO LA 01:08 CHIEU NGAY CHUA NHAT, 07/02/2010. CHI BIET DOC KINH CAU NGUYEN CHO LINH HON GIUSE TRAN DINH KE VA MONG RANG TREN CO~ TROI CAO DO, ANH SE PHU HO CHO GIA DINH, DAC BIET CON CHAU ANH DANG O VIET NAM, CHO NGAY DOAN TU MON MOI TU SAU THANG TU DEN 1975.

CAU NGUYEN CHO GIA DINH VA CHO QUE HUONG DAN TOC VIET NAM CUA CHUNG TA NHE, ANH LINH OI !!! NHU NGAY XUA, (1960) THO VA NHAC CUA NHAT TUAN ANH LINH DA ... VA SE MAI MAI CON CAT LEN :

CUNG CAU CHO THE GIOI ...
CHO NHAN LOAI HOA BINH !!

(NIEM TIN)

XIN MUON CUA PHO XUA PHAN SO LUOC TIEU SU DUOI DAY TREN TRANG ANH LINH , VA NHAT TUAN SE CO GANG NHO LAI , NHO LAI... ROI VIET VAO DAY DE CHIEU NIEM ANH LINH MOT CHIEN SI MU~ DO?, MOT NHAC SI TAI HOA...

Bac Seattle, ngay 7/2/2010
nhat tuan
-------------------------------------------

Nhạc Sĩ Anh Linh


SƠ LƯỢC TIỂU SỬ:

Nhạc sĩ Anh Linh tên thật là Trần Đình Kế. Ông sinh ngày 2/9/1935, nhưng trong giấy tờ ghi ngày 2/8/1935. Sinh quán tại Phủ Từ Sơn Bắc Ninh, quê hương quan họ. Ông lớn lên tại Lạng Sơn – Nên còn bé nói tiếng Thổ giỏi hơn tiếng Việt.

Năm 1945, ông lên 10 tuổi thì bố mất và năm 1949 mẹ ông đem các con chạy về Hànội vì VC về chiếm vùng Cao Bắc Lang (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lang Sơn).

Riêng ông lúc đó 14 tuổi, lại theo cha Cảnh người Pháp sang Pháp học định đi tu ở Toulouse một xứ đầy Hoa Tím .

Năm 1950 cha Cảnh chết vì tuổi già, một phần vì là con trai trưởng mẹ không cho đi tu và cũng một phần nhớ mẹ nên xin về Việt Nam tiếp tục học trường Pháp tại Hànội (Lycée Albert Sarraud).

Năm 1953 ông đỗ trung học Pháp (Diplôme) thì được lệnh gọi nhập ngũ về vụ Điện Biên Phủ . Vì học sinh trường Pháp có diplôme Pháp nên được mang cấp bậc Trung sĩ Văn phòng Tiểu Đoàn Gập dù Pháp. (Base Aéroportée Nord) - Tiểu đoàn này gồm các huấn luyện viên Nhẩy Dù và đi thả dù Điên Biên Phủ, thời gian này ông gặp lại cô bạn học cũ bên Toulouse tên là Pauline.

Thời gian này sáng tác đầu tay “Sao Em Không Đi” của ông ra đời .

Năm 1955, Pháp về nước, nhạc sĩ Anh Linh mãn hạn quân dịch, giải ngũ. Ban ngày đi học ban tối học Âm nhạc Viện Quốc Gia. Ca sĩ trong ban Thiên Thanh Đài Phát thanh SàiGòn.
Vì là ca viên Ca Đoàn Hồn Nước nên được miễn 2 năm Nhạc Lý và học thẳng 4 năm Ca trưởng (Chef de Choeur).

- 1958 làm Dân Chính ca sĩ Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương vẫn tiếp tục học nhạc.

- Cũng từ năm 1958, ban Tam ca ANH LINH, VÂN SƠN và TUẤN ĐĂNG được thành lập thuộc Đại Đội Văn Nghệ (Ban Ca) Tiểu Đoàn Văn Nghệ - Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Sau đổi tên thành “Ban Kích động Nhạc AVT”

- 1959 vừa tốt nghiệp Tú tài 2, vừa mãn khóa Ca trưởng thì lại có lệnh tái ngũ vì vụ Đồng Khởi của VC, vì vừa là ca sĩ dân chính của Tiểu đoàn Văn nghệ Nha Chiến tranh Tâm Lý được cải danh Dân Chính lại mang cấp bậc Trung Sĩ Trưởng ban ca của Đại đội Văn Nghệ Trung Ương. Thời gian này ông gặp thi sĩ Nhất Tuấn về coi Đại Đội Văn Nghệ ở Nha Trang, thì ông viết bài “Niềm Tin” giữa mùa Noël 1960.

- Năm 1962, nhạc sĩ Anh Linh tức Trung Sĩ Trần đình Kế nộp đơn theo học Khóa 3 Sĩ Quan Đặc Biệt vào tháng 6 năm 1962, nên ông phải rời ban AVT ra đi trong lúc đang lúc hốt bạc và là ngôi sao đang lên. (Kịch sĩ Hoàng Hải vào thay thế và đổi tên lại là Anh Hải )

- Năm 1966 - 1967 ông được cử làm Trưởng ban chương trình “Tiếng Hát Học Trò”. Khi thi sĩ Nhất Tuấn làm Quản Đốc Đài Phát Thanh Nha Trang thì ông viết bài “Mimosée”.

Cũng vào năm 1966 được lệnh Đại Tá Cao đăng Tường Cục Trưởng Cục Chính Huấn tại Sài Gòn gọi về Phụ Trách Chương Trình Truyền Hình Thép Súng của Quân Đội - Bộ Tổng Tham Mưu đã chấp thuận, cả Quân Trường đã cấp Sự Vụ lệnh thuyên chuyển cầm tay, cả tuần lễ anh em và những người thân mến tiễn đưa nên Anh Linh sáng tác bài "Thành Phố Này Cho Em".

- Từ năm 1962 – 1975 ông phục vụ trong quân đội VNCH qua các cấp bậc Chuẩn uý - Thiếu Uý – Trung Uý - Đại Uý Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến - Thiếu Tá vừa đeo đúng hai ngày khi làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị tại Vũng Tầu được một tháng thì .... đứt phim !

- Về văn nghệ thì thời gian ở Quân Trường ông viết nhiều bài ca cho Sinh Viên Sĩ Quan, theo học cả các Khóa Chiến Tranh Chính trị tại Đà Lạt từ khóa Căn Bản, Trung Cấp dến Cao Cấp đồng thời theo học khóa Chiến Tranh Chính Trị tại Đài Loan.

Thời gian 4 năm ở ĐẠI ĐỘI VĂN NGHỆ nhạc sĩ Anh Linh cũng viết rất nhiều bài thuộc loại Tuyên truyền phục vụ giai đoạn nên bỏ hết theo từng giai đoạn. Rồi 13 năm ở Quân Trường viết rất nhiều cho Sinh Viên Sĩ Quan.

- Từ năm 1975 đến 1983 ông bị đi tù từ Long Giao ra Hoàng Liên Sơn, Lào Kay, Yên Bái, về Vĩnh Phú . Trong thời gian này ông sáng tác 10 bài ca tù.

- Ra tù về coi ca đoàn nhà thờ dưới quê. Thời gian này sáng tác bài “Cho Em”, “Tặng Nhau Một Bông Hồng”, “Không Hiểu Ý Ở Trong Anh”.

- 1994 ông cùng gia đình đi diện HO 16. Đến định cư tại thành phố San José, CA và được giao làm Giám đốc Phát Thanh Nguồn Sống hằng tuần 15 năm, thời gian này ông lập thêm Chương trình Phát Thanh Ave Maria phát hằng ngày mỗi buổi sáng, và lập Phát thanh Nhóm Lương Tâm Cộng Giáo tất cả các chương trình đều thâu tại nhà và đem đĩa lên đài.

- 2003 lên Santa Rosa quy tụ được 400 người Công Giáo thành lập Cộng đoàn Công Giáo Việt Nam và hiện làm Chủ tịch Cộng Đoàn Công Giáo đồng thời tập hát cho ca đoàn nhà thờ. Ngày 1.1.2006 sáng tác bài “Người Tình 50 Năm” kỷ niệm 50 năm Lễ Vàng ngày cưới của hai vợ chồng.

- 2007 phối hợp các ban Đại diện tôn giáo tổ chức hội chợ Tết tại Santa Rosa để qui tụ người Việt lại được 1000 đồng hương.

- 2008 đứng trưởng ban Tổ Chức hội chợ Tết để tránh tiếng tôn giáo tổ chức Tết. Ghi nhận thêm được một số nhân tài và có thiện chí thành lập Cộng Đồng Việt Nam vùng Sonoma (Sonoma Vietnamese Association - viết tắt là SOVA – xin mời xem web : www.SONOMAVIETNAMESE.COM có cả hình ảnh 2 tết 2008 và 2009.

- 2009 Nhân danh Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam vùng Sonoma tổ chức Tết Kỷ Sửu con số đồng hương lên đến 3000 người.

- Ước vọng của ông là bảo lãnh 28 người con và cháu sang hết bên này để ông sẽ lập ban du ca thăm các Cộng đồng Việt Nam khắp nơi và giới thiệu những ca khúc trong tù.


TÁC PHẨM:

Trước 75:
- Sao Em Không Đi (1953)
- Thành Phố Này Cho Em (1966)
- Niềm Tin (phổ thơ nhất Tuấn) (1967)
- Mimosée

Sau 75: 10 bài ca viết trong tù: (75-83)

- 1. Mưa buồn (phổ thơ Hà Thượng Nhân)
- 2. Bông Cúc Vàng và Đàn Chim Sâu Nhỏ
- 3. Tiếng Chuông Duyên Lãng phổ thơ Cha Trần Hữu Lân)
- 4. Trên bước chân chim .
- 5. Một phương đã về.
- 6. Đau
- 7. Con tim lưu dầy.
- 8. Lời ru.
- 9. Tóc đen.
- 10. Mùa Đông của ta.

Ra Tù 1983:

2 ca khúc hài hước:

- Con Trâu Sắt (Ám chỉ tham nhũng của “anh cưỡi trâu” tức là cưỡi “cái máy cày Liên Xô”)
- Con Trâu Đen (Ám chỉ cửa quan, cửa quyền, khó khăn giấy tờ của “ngân hàng nhà nước”)

- Cho Em
- Tặng Nhau Một Bông Hồng
- Không Hiểu Ý Ở Trong Anh
- Người Tình 50 năm (2006)



*Xin cảm tạ nhạc sĩ Anh Linh đã cho phép sử dụng tư liệu này.

*Cảm ơn anh Vũ gửi cho tấm hình.

_____________________________

(trả lời với: hodinhvu)
Bài thứ: 179
RE: Nhất Tuấn - 9/13/2010 8:59:37 PM   
htp76

 

Thành viên đang: offline

Thua quy vi than huu :

Trong khoang vai nam qua, Pho Xua da danh cho nhat tuan 9 trang de post tho, nhac, bai viet lien he toi Truyen Chung Minh, trong so nay co 2,3 bai tho cua nhat tuan duoc Tran Quan Long pho nhac. Do la nhung bai :

DOC AM tang HUY QUANG VU DUC VINH ...cua Cuc truong Cuc Vo Tuyen Truyen Thanh VN ;
GUI THEO THANH NAM (thi si viet bai TUA trong TCM tap 1. nam 1959/1960? o Saigon.)
va co le con 1 bai nua...hien khong nho ro, se kiem sau va ghi lai.

Hom nay. thu hai 13/09/2010, qua email chung toi biet tin NHAC si TRAN QUAN LONG, ANH HUNG VIET QUOC vua ta the va tang le DA to chuc ngay 4/09/2010 tai Wesminster, CA/USA . Toi xin phep Ban Giam Doc Pho Xua post email cua than huu Kha Vang Tho tu Paris, French gui toi tuong thuat tang le Nhac si Tran Quan Long, voi hinh anh tho*, nhac ...rat cam dong ... nhu chut qua luu niem cuoi doi cua than huu, doc gia danh cho nhac si Tran Quan Long.

Chan thanh cam on su chap thuan dac biet cua Ban Giam Doc Pho Xua. Toi cung xin phep than huu Kha Vang Tho de nguyen emaili Address ngo~ hau neu vi nao khong mo*? duoc tin ve tang le nay thi co the lien lac truc tiep de mong co su giup do cua Tin Paris.Net va than huu Kha Vang tho. Da ta.

VO CUNG THUONG TIEC & QUY MEN;
THANK KINH PHAN UU CUNG TANG QUYEN & NI CO HUE TRAN

nhat tuan hau pham
(Bothell, 98012)

-------------------------------------------------------


---------- Forwarded message ----------
From: Vang Tho HUA <huatho@yahoo.fr>
Date: 2010/9/7
Subject: Tang Lễ của cố nhạc sĩ Trần Quan Long ngày 4.9.2010 tại Westminster ( Cali - Mỹ )
To: Hua vang Tho <huatho@yahoo.fr>



Kinh moi quy ban theo doi :

Tang Lễ của cố nhạc sĩ Trần Quan Long ngày 4.9.2010 tại Westminster ( Cali - Mỹ )

Tran Trong
TM TinParis.net
Hua vang Tho

(trả lời với: htp76)
Bài thứ: 180
Trang:   <<   < phần trước  7 8 [9] 10 11   phần sau >   >>
Diễn Đàn Chính >> [Âm nhạc, Văn học-Nghệ thuật] >> Thơ >> RE: Nhất Tuấn - Hoa Học Trò Trang: <<   < phần trước  7 8 [9] 10 11   phần sau >   >>
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 Ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết




Login| khanhly.net| Diễn Đàn Chính| Bài hôm nay| Bài mới| Góc riêng| Thư riêng| Các thành viên| Tìm kiếm| Log Out


Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.4
Copyright © 2003 - 2006 KHANHLY.NET

0.297