Không Đề-Quang Dũng
|
Tham gia dưới tên: Guest
|
|
Cùng đọc bài với bạn: không
|
|
Tên login | |
|
Bùi Giáng và thơ Apollinaire - 7/28/2011 12:53:48 PM
|
|
|
thanhthuduc
Thành viên đang: offline
|
Apollinaire Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi L’Adieu J’ai cueilli ce brin de bruyère L’automme est morte souviens-t’en Nous ne nous verrons plus sur terre Odeur du temps brin de bruyère Et souviens-toi que je t’attends. Và nhớ nhé! Ta đợi chờ em đó, Bài thơ chỉ vẽn vẹn chỉ có năm câu. Năm câu phiêu hốt mang thiên nhiên nằm giữa nền thi ca Tây Phương Hiện Đại – năm câu cũng đồ sộ như toàn khối Đường Thi Trung Hoa hay mấy vần tứ tuyệt của một Thôi Hộ. Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa Mộng trùng lai không có ở trên đời Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó… Dịch ra làm sáu câu, tôi có phần áy náy. Nhưng không biết phải làm sao. Cái chất đạm nhiên bát ngát trong bài thơ Apollinaire đang trừ khử hết mọi lối dịch diễn dịch di, dịch tinh, dịch thể. Cứ thử liều một trận xem sao. Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi Chúng ta sẽ chẳng nhìn nhau trên đất nữa Hương thời gian nhành thạch thảo tí hon Và nhớ nhé ta đợi chờ em nhé… Cũng tạm gọi là được. Nếu ta đem bài thơ bát ngát kia đặt vào giữa nguồn thơ mênh mông của Apollinaire ắt ta dám dịch nó ra làm lục bát Huy Cận, lục bát Nguyễn Du hoặc làm thất ngôn Du Nguyễn. Đã hái nhành kia một buổi nào Ngậm ngùi thạch thảo chết từ bao Thu còn sống sót đâu chăng nữa Người sẽ xa nhau suốt điệu chào Quên rồi khoảnh khắc rộng xuân xanh Thời gian đất nhạt mờ năm tháng Tuế nguyệt ta đà nhị hoán tam. Dịch như thế là diễn giải một mùi hương ẩn tàng trong nếp gấp. Nhưng đâu có cần gì. Nếu như cần, thì tớ cứ buông bừa bút mực viết bừa thơ. Mùa thu chết liễu nhớ chăng em? Đã chết xuân xanh suốt bóng thềm Đất lạnh quy hồi thôi hết dịp Chờ nhau trong Vĩnh Viễn Nguôi Quên Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường Nhành hoang thạch thảo ngậm ngùi vương Chờ nhau chín kiếp tam sinh tại Thạch thượng khê đầu nguyệt điểu mang Xa nhau trùng điệp quan san Một lần ly biệt nhuộm vàng cỏ cây Mùi hương tuế nguyệt bên ngày Phù du như mộng liễu dài như mơ Nét my sầu tỏa hai bờ Ai về cố quận ai ngờ ai đi Tôi hồi tưởng lại thanh kỳ Tuổi thơ giọt nước lương thì ngủ yên. Dịch ra như vậy thì tiếp giáp với bài thơ “Je me souvienns”: Je me souviens de mon enfance Eau qui dormait dans un verre Avant les tempêtes l’espérance Em nhớ anh quên và em cũng Je me souviens de mon enfance Tôi hồi tưởng tuổi thơ ngày trước Đáy ly nào giọt nước ngủ yên Trước khi giông bão muộn phiền Giậy cơn hy vọng cuối miền thơ ngây. Je songe aux métamorphoses Qui s’épanouissent dans un verre Comme l’espoir et la tristesse Je songe aux métamorphoses C’est ma destinée que je lis Dans les reflets incertains Les jeux sont faits rien ne va plus C’est ma destinée que je lis Tôi nghĩ tới tháng ngày chuyển dịch Những thay hình đổi dạng mở phơi Trong ly nước mộng tuyệt vời Với sầu dao động nỗi đời giao thoa Linh hồn định mệnh âm ba Bóng vang khép mở đầu hoa mơ hồ Hỡi ôi dâu biển xô bồ Hồn trong định mệnh bây giờ đọc ra. (Sương Bình Nguyên) Trích Đi Vào Cõi Thơ - Bùi Giáng
_____________________________
tuổi già vây chặt chiêm bao lối về
|
|
|
|
Thơ Nguyễn Đình Toàn - 7/31/2011 9:16:41 PM
|
|
|
bvak
Thành viên đang: offline
|
Anh có thơ của Nguyễn Đình Toàn khg ạ ?
|
|
|
|
RE: Thơ Nguyễn Đình Toàn - 8/1/2011 1:29:50 AM
|
|
|
thanhthuduc
Thành viên đang: offline
|
Nhớ những lần, nghe nhạc, đọc thơ, đọc truyện của Nguyễn Đình Toàn Trần Yên Hòa Năm 1966, tôi đang học đại học ở Sài Gòn thì cha tôi ở quê viết thư vào bảo: “Quê mình mất an ninh rồi, cha mẹ phải bỏ quê mà tản cư xuống quận lỵ tỵ nạn. Trong một đêm, địch về làng bắn giết, đốt phá nhà cửa của cán bộ làm việc bên phe quốc gia nhiều lắm, cha mẹ sợ quá nên phải tản cư xuống quận lỵ tạm trú, chứ ở quê không yên. Con cố gắng tự túc đi học nghe con.” Tôi đọc thư mà nghe buồn bã quá. Tìm đọc trên mục rao vặt trên các báo Chính Luận, Công Luận, tôi đi dạy kèm, đi giặt đồ cho một công ty thầu giặt đồ cho lính Mỹ, mà lương lậu chẳng đâu vào đâu. Tôi học không vô nữa, bèn nộp đơn xin đi dạy theo một thông cáo tuyển lựa giáo sư tư nhân dạy giờ của Bộ Giáo Dục. Sau đó mấy tháng, tôi được giấy của bộ Giáo Dục bổ nhiệm về dạy ở trường trung học Mộ Đức, Quảng Ngãi. Với nỗi buồn vui lẫn lộn. Buồn vì phải bỏ giảng đường đại học mới tập tểnh bước vào mấy năm. Vui vì mình sắp bước vào con đường mới, con đường dạy học. Đó cũng là mộng ước của tôi thời niên thiếu. Với lại, Quảng Ngãi tôi chưa biết đến bao giờ. Và cả Mộ Đức, một quận lỵ, vẫn nghe đồn rằng, đó là vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm “giải phóng”. Nhưng tôi lại nghĩ, mình chỉ là thầy giáo quèn, gỏ đầu trẻ, có gì đâu mà sợ, nên tôi cũng vững tâm đến đó. Mộ Đức là một quận lỵ buồn, không có phố xá, chỉ có con đường quốc lộ một chạy qua. Bộ chỉ huy chi khu và văn phòng quận hành chánh đóng chung bên kia đường, đối diện trường trung học, do một trung úy bộ binh làm quận trưởng kiêm luôn chi khu trưởng. Tôi đã dạy học ở đó với những em học sinh tóc cháy vàng vì nắng gió và nhờ đó mà tôi vui. Những buổi chiều quận lỵ thật buồn. Chênh chếch phía bên kia đường có một loa phóng thanh của chi thông tin bắt trên ngọn cây, hàng ngày thường mở đài Sài Gòn hay đài Quảng Ngãi cho dân chúng nghe tin tức. Một buổi chiều, cũng như mọi buổi chiều khác, tôi được nghe từ loa phóng thanh, một bài hát có tên Tình Khúc Thứ Nhất được xướng ngôn viên giới thiệu tác giả là Vũ Thành An, lời Nguyễn Đình Toàn, bản nhạc này, nhạc đã hay mà lời cũng quá hay: Tình vui theo gió mây trôi Ý sầu mưa xuống đời Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi Mấy tuổi xa người Ngày thần tiên em bước lên ngôi Đã nghe son vàng tả tơi Trầm mình trong hương đốt hơi bay Mong tìm ra phút sum vầy Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài Lời nào em không nói em ơi Tình nào không gian dối Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say Lá thốt lên lời cây Gió lú đưa đường mây Có yêu nhau xin ngày thơ ngây Lúc mắt chưa nhạt phai Lúc tóc chưa đổi thay Lúc môi chưa biết dối cho lời Tình vui trong phút giây thôi Ý sầu nuôi suốt đời Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền Dù trời đem cay đắng gieo thêm Cũng xin đón chờ bình yên Vì còn đây câu nói yêu em Âm thầm soi lối vui tìm đến Thần tiên gẫy cánh đêm xuân Bước lạc sa xuống trần Thành tình nhân đứng giữa trời không Khóc mộng thiên đường Ngày về quê xa lắc lê thê Trót nghe theo lời u mê Làm tình yêu nuôi cánh bay đi Nhưng còn dăm phút vui trần thế Lúc này, Vũ Thành An và Nguyễn Đình Toàn chứa nổi, tác giả chỉ là cái tên, nhưng bản nhạc quá hay nên có tôi cảm tình với tác giả ngay, nhất là tác giả viết lời. Lúc đó, tôi cứ nghĩ Vũ Thành An đã phổ từ một bài thơ nào đó của Nguyễn Đình Toàn. Nhưng sau này, khi tôi đọc trên một tờ báo nào đó, mới biết là nhạc phẩm này của Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toàn viết lời. Chúng ta hãy đọc lại mấy câu, ông dùng ngôn ngữ rất lạ mà rất thơ: Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi Mấy tuổi xa người Ngày thần tiên em bước lên ngôi Đã nghe son vàng tả tơi Trầm mình trong hương đốt hơi bay Mong tìm ra phút sum vầy... Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài Bản nhạc này, tôi nghe (sau đó được nghe lại mấy lần) và tự nhiên thuộc lời, rồi tôi đã đem lời nhạc này đọc cho học sinh trong lớp tôi dạy (vì tôi dạy môn Việt văn nên tôi tha hồ mà bình luận, bốc phét, thêm nhưn nhị vào bài thơ, những ý tưởng mà có lẽ tác giả cũng không nghĩ ra. Có thể nhờ bản nhạc này mà tôi có một (vài) mối tình rất thơ với (một, hai) cô gái Mộ Đức, một cô gái có tên là Nề, mà sau này tôi có viết trong một truyện ngắn, truyện Nề xưa. Bây giờ tất cả đã xa lắc lơ, chỉ còn là kỷ niệm. Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn. * Sau này, cũng thời gian năm 66 hay 67 gì đó, tôi có đọc một bài thơ của Nguyễn Đình Toàn ở đâu đó, và rất mê. Nhưng lâu rồi cũng quên nhan đề, sau khi tìm kiếm, lục lọi, mới biết đó là bài Khi Em Về. Tôi xin ghi lại như sau: Khi em về Quê mẹ đấy ưu phiền nhiều quá lắm Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo Anh nằm đếm những ngày rồi những tháng Đi qua dần khi nước mắt buông theo Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá Khi em về bước chân chừng xa lạ Và cỏ hoa tất cả đã lắng im Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết Và dấu giầy mai sẽ lá sương che Nguyễn Đình Toàn còn có bài thơ Khúc Ca Phạm Thái cũng rất nổi tiếng. Bài thơ ghi lại hình ảnh chàng tráng sĩ Phạm Thái yêu Trương Quỳnh Như, em ruột của người bạn thân là Trương Quang Ngọc, mối tình đó đã trở thành tình sử trong văn học Việt Nam mà Khái Hưng đã viết thành tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Bài thơ với ngôn ngữ mang mang hào sảng, nói lên chí khí của người tráng sĩ mang gươm đi cứu nước, nhưng thất bại, phải dẹp bỏ cuộc tình riêng, giọng thơ hào khí ngất trời. (hơi thơ giống bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác). Cho nên trong những cuộc vui chơi với bằng hữu, những người thích thơ, biết làm thơ hay cảm thơ, mỗi khi ngồi uống rượu với nhau thường ngâm bài thơ này: Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm, Ta anh hùng hề, sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như. Chí nhỏ lòng kiêu, đổ thưà vận rủi, Tài sơ sức mỏi, trách với thời cơ . Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ, Nâng chén lửa đốt tàn dần năm tháng. ... Em ơi tám hướng sông hồ, Mười năm ngang dọc, bây giờ là đây .. Sự đời chừ đã trắng tay, Ngủ vùi một giấc, cho đầy gối tham . Ta say hay ta tỉnh? Nàng buồn hay nàng vui? Ngọc châu pha vỡ tiếng cười , Lược gương xin chải ngậm ngùi cho nhau . Và Bản Nhạc viết về Sài Gòn Từ lâu, nghĩa là từ trước năm bảy lăm, tôi nghĩ là Nguyễn Đình Toàn chỉ làm thơ và viết văn thôi, nếu cùng lắm thì ông đặt lời cho nhạc như bài Tình Khúc Thứ Nhất. Nhưng sau này tôi biết ông còn sáng tác nhạc, ông viết rất nhiều ca khúc. Trong những ca khúc của ông tôi thích đâu 3, 4 bài, như bài Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, mà nhiều người biết đến, sau đây: "Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên - như dòng sông nước quẩn quanh buồn - như người đi cách mặt xa lòng ta hỏi thầm em có nhớ không... Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao - trong niềm vui tiếng hỏi câu chào - sáng đời tươi thắm vạn sắc màu - còn gì đâu..." Theo tôi, bản nhạc này là bản nhạc hay nhất của nhạc Việt Nam viết về Sài Gòn sau khi mất nước và lúc Sài Gòn đã thay đổi tên. Bản đứng thứ nhì đồng hạn là bài Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng và bài Đêm Nhớ trăng Sài Gòn nhạc ...thơ Du Tử Lê. Sau rót mới đến bản Sài Gòn Vĩnh Biệt của Nam Lộc. Bản nhạc Sài Gòn Vĩnh Biệt được mọi người biết đến nhiều có lẽ nhạc phẩm này ra đời sớm, khoảng đâu sau bảy lăm một hai năm, trong lúc đó, lòng người Việt Nam, nhất là những người di tản từ ba mươi tháng tư bảy lăm, luôn luôn khắc khoải trong lòng nổi nhớ quê hương, mà Sài Gòn là biểu tượng một quê hương trong lòng mọi người, nên mất đi Sài Gòn, rời xa Sài Gòn, ai cũng tưởng tiếc, cũng nhớ về. Kể cả những người đi ở tù cộng sản như chúng tôi, khi nghe bản Vĩnh Biệt Sài Gòn (được đưa chui vào trại tù), chúng tôi nghe cũng thật bùi ngùi, cảm động (lúc đó tôi ở Long Khánh, có tin truyền miệng nhạc phẩm Vĩnh Biệt Sài Gòn là của một sĩ quan sư đoàn 5 bộ binh sáng tác). Đến khi qua Mỹ, tôi mới biết tác giả là Nam Lộc, và theo tôi đánh giá về nghệ thuật, bản nhạc này lời rất giản dị, bình thường, ca từ không có gì mới lạ, có nhiều câu, suy cho kỹ thì phản ý của người di tản hay người vượt biên, ví dụ như câu bây giờ tôi như con thú hoang lạc đàn, sao lại là con thú hoang? Nếu nói về đất nước Việt Nam Cộng Hòa trước bảy lăm và những người sống trong đất nước đó là đàn thú hoang sao? Lời nhạc rất phản ý của người Việt tỵ nạn cộng sản. Và sau đó có những câu như Sài Gòn ơi ta xin hứa là ta sẽ về? Sao đã vĩnh biệt rồi, như theo đề tựa, vĩnh biệt là không bao giờ gặp lại, mà sao hứa sẽ trở về? Cho nên, bản nhạc này được nhiều người nghe là do tâm trạng thương nhớ Sài Gòn có sẳn trong lòng, chứ không phải là bản nhạc hay. * Nguyễn Đình Toàn sáng tác nhạc rất nhiều, sau khi ra hải ngoại ông đã cho ra mắt 2 CD, đó là: Hiên Cúc Vàng với chỉ một giọng ca Khánh Ly, và Tình Ca Việt Nam với Duy Trác, Khánh Ly, Sĩ Phú, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu. Nhạc Nguyễn Đình Toàn mang hơi hám của một người lưu vong luôn luôn nhớ về những kỷ niệm cũ, một hoài niệm không rời với hồi ức, thường buồn hơn vui, đã đưa người nghe vào một không gian âm thanh sâu lắng, không sôi nỗi xáo động, nó trầm lắng, dịu dàng, nên lớp người cũ đã sống trước bảy lăm ở miền Nam rất thích nghe. Từ Giờ Ra Chơi đến Áo Mơ Phai Truyện Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng in năm 1970. Tôi mua quyển truyện này tại một tiệm sách ở khu Hòa Bình trong một chủ nhât đi phép. Đời SVSQ/CTCT ngày phép thường ra bát phố Đà Lạt, sau khi đã vào tiệm tắm nước nóng tắm để rũ sạch bụi đỏ quân trường, sau đó đi ăn phở Bằng hay vào quán Tùng uống cà phê hay ra bờ Hồ Xuân Hương vào Thủy Tạ ăn kem. Nhưng tôi thì hay đi loanh quanh mấy tiệm sách để tìm mua những tác phẩm mới xuất bản của các nhà văn mình yêu thích. Thời điểm đó, truyện dài Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn mới phát hành nên tôi nhìn thấy là chộp mua ngay. Giờ Ra Chơi kể lại mối tình của cô gái học trò Đà Lạt tên Thục và tình yêu của tuổi mới lớn của Thục. Truyện nhẹ nhàng êm dịu, thơ mộng như trời mây non nước xứ Đà Lạt. Lúc này tôi có một người bạn gái là một cô học trò trường Hồng Đức, Đà Nẵng, tôi liền mua thêm một cuốn gởi về tặng cô gái và tả tình tả cảnh Đà Lạt, cũng như mối tình đẹp của cô học trò tên Thục trong truyện. Tôi cố rũ người bạn gái lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh để được gần tôi, cuối cùng cô gái nghe lời “dụ dỗ” của tôi mà lên Đà Lạt theo học. Rất tiếc là khi cô lên Đà Lạt thì tôi cũng xong hai năm thụ huấn. Tôi đổi đi xa nên mối tình cũng bay theo sương khói. * Áo Mơ Phai, tập truyện dài của Nguyễn Đình Toàn đăng “phơidơtông” ở Nhật Báo Tiền Tuyến, được nhiều người đón nhận, theo dõi say mê từng ngày. Sau này in thành sách và được giải văn chương toàn quốc năm 1972. Truyện Áo Mơ Phai kể lại những mối tình thơ mông ở Hà Nội trước ngày di cư năm 1954, khi Hà Nội còn là ngàn năm văn vật đất Thăng Long, cùng với một Hà Nội thơ mộng trữ tình là sự dùng dằng, ra đi hay ở lại của những người Hà Nội trong giai đoạn lịch sử năm 1954, chia đôi đất nước. Chúng hãy đọc một đoạn ngắn trong Áo Mơ Phai khi tác giả tả những cái đáng yêu của Hà Nội: “Những tiếng động nhỏ ấy, những hương vị mờ nhạt ngửi thấy, cây cối trong mùa mưa, phấn hương của người quen thuộc, những món ăn, thức uống, những câu thơ, những bài hát, Hà Nội giống như một cái chuông và những tiếng kêu ấy là những cách khua động, người ta tự gõ vào trí tưởng mình, tự xé lòng mình, để nhẹ bớt nỗi nhớ mong, ám ảnh của Hà Nội, Hà Nội đã biến thành khuôn mặt người tình đầu tiên, khi người ta ghé môi hôn thì cũng là lúc cái hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm khảm. Những khu phố dịu dàng dưới sương đêm, sáng cái ánh sáng của vầng trăng lúc nào cũng giống như, trăng khi còn thơ ấu, và những cơn gió nhẹ thổi trên các lối đi, thổi lên các cành cây, chẳng khác những hơi thở nồng nàn tình ái, người ta không thể biết rõ cái vẻ dịu dàng của Hà Nội được tẩm đẫm nhan sắc, dáng vẻ của những người đàn bà, những cô gái Hà Nội, hay chính những người này thừa hưởng cái không khí êm đềm đó, những trận gió mang đầy hơi phù sa của sông Hồng, mùi cỏ của con đê Yên Phụ, mùi rượu ngang, rêu phong của những mái nhà cũ kỹ, của những bức tường thành của ngày Hà Nội bị xâm chiếm xa xưa, của các xưởng máy, của hoa đào, hoa sấu, sắc đỏ của những bông gạo vừa tàn rụng hết trong ngày hè với muôn ngàn tiếng chim kêu hót...” * Truyện, thơ, nhạc của Nguyễn Đình Toàn là ta đọc từ tâm thức nhẹ nhàng. Suốt hành trình trên 50 năm làm văn nghệ, Nguyễn Đình Toàn đã cho ra đời những tác phẩm sau: Văn: Chị em Hải, nhà xuất bản Tự Do, 1962 Những kẻ đứng bên lề, nhà xuất bản Giao Điểm, 1964 Con đường, nhà xuất bản Giao Điểm, 1967 Ngày tháng, nhà xuất bản An Tiêm, 1968 Phía ngoài, nhà xuất bản Hồng Đức, 1969 Giờ ra chơi, nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng, 1970 Đêm hè, nhà xuất bản Hiện Đại 1970 Đêm lãng quên, Văn Uyển, 1970 Không một ai, nhà xuất bản Hiện Đại, 1971 Đám cháy, Văn Uyển 1971 Áo Mơ Phai, 1972. Thơ: Mật Đắng. Nhạc: Hiên Cúc Vàng (CD)với giọng ca Khánh Ly. Tình Ca Việt Nam (CD) với giọng ca Duy Trác, Khánh Ly, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu. Và nhiều nhạc phẩm khác. * Nguyễn Đình Toàn đã hiến cho đời những tác phẩm hay, với riêng với tôi, tác phẩm của Nguyễn Đình Toàn đã theo bước chân thời gian của cuộc đời đeo đuổi tôi, qua những cuộc tình học trò, sinh viên, thơ mộng, dịu êm. Còn ngoài đời, tôi chỉ gặp ông đâu có hai, ba lần gì đó, cũng chẳng được dịp nói chuyện lâu, nhưng trong lòng tôi, lúc nào cũng mến mộ Nguyễn Đình Toàn. Rất cảm ơn nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn. Trần Yên Hòa Nguồn: http://www.xuquang.com
_____________________________
tuổi già vây chặt chiêm bao lối về
|
|
|
|
RE: Thơ Nguyễn Đình Toàn - 8/1/2011 1:36:59 AM
|
|
|
thanhthuduc
Thành viên đang: offline
|
KHÚC CA PHẠM THÁI Nguyễn Đình Toàn. Ta tráng sĩ hề , lòng không mềm bằng kiếm, Ta anh hùng hề , sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như . Chí nhỏ lòng Kiêu, đổ thưà vận rủi, Tài sơ sức mỏi , trách với thời cơ . Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ, Nâng chén lửa đốt tàn dần năm tháng. Hồn đau thương những đêm trường bốc cháy, Ngựa ngông cuồng khua gót nhớ quan san. Trời mưa buồn hay nhỏ lệ nhân gian, Men ứa lạnh trên đầu tay gía buốt. Chợp năm canh gà chừ tóc hồ điểm bạc, Thù nhà chưa trả chừ nợ nước vai mang. Thẹn mặt làm ngơ chừ tuỉ thân hồ hải, Gục đầu lên gươm chừ , máu đổ chứa chan. Ta là sao tinh đẩu , Cao vút trời cô ñơn. Sáng không đủ soi đường cho người chừ , đêm chưa đành tắt. Một mình ta với lòng ta chừ , bão táp khôn nguôị Biển động bốn phương chừ , sóng đau gào thét, Giấc mơ thù hận chừ , máu đỏ tay ngườị . Cơn say dở khóc dở cười , Thành nghiêng núi lở , đất trời là đâu . Chuông rung đã lọt tiếng cầu, Em ơi tỉnh dậy nghe sầu vào thơ . Ta yêu nàng ư ? Ta giết nàng ư ? Ta thương nàng ư ? Ta khóc rồi ư ? Môi nàng thơm chừ hồn ta ngây ngất , Mắt nàng là đèn hoa soi đêm tối hồn ta . Gót hương trầm dáng kiều thơm dịu ngọt , Xiêm y nồng nàn ngón nhỏ búp tiên nga . Nàng là thơ ta là ruợu mê hoa , Trời nâng giấc ban ơn đầy xuân mớị . Ta nhớ nàng điên cuồng lên tiếng gọi, Quỳnh Như ơi , ai đội mộ nàng lên . Thơ nàng buồn thành những chiếc gai êm , Mọc lên giữa linh hồn ta sầu tủi . Mây ngũ sắc kết lên lầu ngóng đợi, Sao Ngân Hà mở hội đón em đi, Thuyền trăng đây ta xin chở em về , Trong lưng chén long lanh chừ , đau lạnh môi tê ... Ta ôm nàng trong đôi tay sưng húp, Ta cắn xiêm y nàng, cho vỡ nát chén si mê . Quỳnh Như ơí Hồn ta đây mời em về ngự trị Rồi thơ thần , ta giáng bút cho nhau Rồi trải thơ làm gấm nệm muôn màu, Ta sẽ cưới nhau dưới muôn ngàn tinh tú.. Xin đừng bạn bè , Xin đừng chí cả..... Ta sắp gặp nàng, Ta sắp gặp nàng dâỵ Gió đã mách, nàng đang về trên đài kiêu khai nụ , Ta nghe bước chân nàng vừa thoắt nở thành hoa . Rượu còn đầy vò , trăng còn sáng trên thơ , Xin ñừng để ngai hồn ta trống vắng . Này Tiêu Sơn chuông chùa nào nín lặng , Hãy chiêu hồn cho đội mộ nàng lên. Nàng chết rồi ư ? Ta khóc rồi ư ? Em ơi tám hướng sông hồ, Mười năm ngang dọc , bây giờ là đây .. Sự đời chừ đã trắng tay , Ngủ vùi một giấc , cho đầy gối tham . Ta say hay ta tỉnh ,? Nàng buồn hay nàng vui ? Ngọc châu pha vỡ tiếng cười , Lược gương xin chải ngậm ngùi cho nhau . Môi nàng là mật đắng , Tóc nàng là bão đau . Mắt nàng thành mộ tối , Hồn ta là đêm thâu . Áo bào hiên ngang hề bụi đường mốc thếch , Chuông kinh cầu nguyện hề , lời đầy tên nàng . Trời rộng thênh thang hề chim thiêng rã cánh , Canh khuya mòn mỏi hề đôi bóng sầu tương. Tinh đẩu lu mờ hề thơ run hồn thép , Ngựa ghê đá sắc hề xa lắc biên cương Rát mặt anh hùng hề nàng là gió mát, Xin tạ tình nàng hề lệ đau một hàng .. Heo may đã nổi lá vàng , Buồn xưa chừng cũng động ngàn bay xa . Mộ nàng bao cỏ úa , Lòng ta bấy xót xa . Rưng rưng chén nhỏ trào tâm sự , Ta thương nàng hay ta thương ta ??? nguồn:http://tranhodung.blogspot.com
< Được sửa bởi: thanhthuduc lúc 8/1/2011 1:38:01 AM >
_____________________________
tuổi già vây chặt chiêm bao lối về
|
|
|
|
RE: Thơ Nguyễn Đình Toàn - 8/3/2011 4:39:55 AM
|
|
|
bvak
Thành viên đang: offline
|
cám ơn anh, bvak
|
|
|
|
Về một bài thơ của Quang Dũng. - 8/4/2011 5:31:50 AM
|
|
|
thanhthuduc
Thành viên đang: offline
|
Các bạn yêu thơ phổ nhạc chắc là ai cũng biết bài Mai Chị Về của nhạc sĩ Cung Tiến phổ từ bài thơ Kẻ Ở của thi sĩ Quang Dũng.Tình cờ tôi có đọc được một vài chi tiết thú vị về bài thơ nầy,xin chia sẽ cùng các bạn. Trước hết là bài viết từ :http://www.e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=6138 KẺ Ở Mai chị về em gửi gì không ? Mai chị về nhớ má em hồng Đường đi không gió lòng sao lạnh Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong Quê chị về xa tít dặm xa Rừng thu chiều xao xác canh gà Hoa rơi khắp lối, sương muôn ngã Ngựa lạc rừng hoang qua lướt qua Ngựa chị dừng bên thác trong veo Lòng chị buồn khi nắng qua đèo Nơi đây lá giạt vương chân ngựa Hươu chạy quay đầu theo ngó theo Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang Ngựa chị dừng bên thác trăng vàng Sao rơi đáy nước vương chân ngựa Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng. Chú thích Bài thơ này có chút nghi vấn về tiểu sử. Bài thơ được coi là của Quang Dũng vì nó xuất hiện trong một cuốn sổ tay của ông. Tuy nhiên, Quang Dũng chưa bao giờ nhận đó là tác phẩm của mình cả. Trong khi chưa rõ tác giả thật thụ của bài thơ, chúng tôi tạm để nó ở đây theo hầu hết các tài liệu chúng tôi có. Xét cho cùng, tứ thơ, phong cách và nhạc điệu của bài thơ cũng rất... Quang Dũng. Kế đó là trong một tập thơ của nhà Xuất Bản Lao Động năm 2001: Nhà thơ Nguyễn Đình Tiên. Tiểu sử: Tên thật: Nguyễn Đình Tiên Sinh năm: 1924 Năm mất: 1995 Nơi sinh: Thanh Hoá Bút danh: Nguyễn Đình Tiên Thể loại: Thơ Các tác phẩm: Dặm về Dặm về Mai chị về, em gửi gì không? Mai chị về nhớ má em hồng Đường đi không gió, lòng sao lạnh? Bụi vượt ngang đầu mong nhớ mong. Quê chị về xa tít dặm xa Rừng thu chiều xao xác canh gà Sương buông khắp lối đường muôn ngả Ngựa lạc cành hoang qua lướt qua. Ngựa chị dừng bên thác trong veo Lòng chị buồn khi nắng qua đèo Nơi đây, lá rạt vương chân ngựa Hươu chạy theo đàn, theo ngó theo. Rừng đêm nhoà bóng nhớ hoang mang Ngựa chị vừa qua thác sao vàng Sao trôi đáy nước, rơi chân ngựa Buồn dựng đôi mi, ngàn lại ngàn. Thu 1945 Nơi xuất bản: NXB Lao động - 2001
_____________________________
tuổi già vây chặt chiêm bao lối về
|
|
|
|
RE: Về một bài thơ của Quang Dũng. - 8/4/2011 5:39:33 AM
|
|
|
thanhthuduc
Thành viên đang: offline
|
Và cuối cùng là bài viết của cụ Bùi Giáng về thi sĩ Quang Dũng: ..... Mai chị về em gửi gì không Mai chị về nhớ má em hồng Chỉ hai câu đầu đã khiến người tê lạnh. Không có gì cả, không lời nào tha thiết, nhưng đúng như ông Huy Trân nói: “Thơ Quang Dũng ý đã nhiệt thành, cao đẹp, mà lời thơ lại êm ái gợi cảm vô cùng. Nói về thơ nhẹ nhàng, êm dịu, mà đọc tới đâu lâng lâng chết cả lòng đến đấy, thì thi ca hiện đại chỉ có Quang Dũng.” Thi ca hiện đại hay thi ca ngàn đời, thi ca Việt Nam hay thi ca thế giới – vâng – cũng chỉ riêng một Quang Dũng thôi. Mai chị về em gửi gì không Mai chị về nhớ má em hồng Đường đi không gió lòng sao lạnh Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong Đó là chỗ sơn cùng thủy tận của ngôn ngữ. Ngôn ngữ thần tiên hiển hiện tinh thể một cách không thấy hình hài máu me đâu cả. Người ta đã bao đời đi tìm cõi huyền nhiệm của ngôn ngữ thơ. Mỗi phen trở về, mỗi phen như bó tay lắc đầu, tuyệt nhiên không biết ăn nói ra sao cả. Đành chỉ nói quanh co. Và biết bao thy sỹ hoằng viễn đã nghĩ rằng, nguyệt rằng, mình sẽ suốt đời không làm một vần thơ nào cả - một phen để hội cái chỗ dị thường trống trải vắng vẻ trong lời man mác thiên tiên kia. Lại có những nhà tư tưởng như Heidegger, viết bao pho sách lịch kịch nêu bao câu chất vấn u ẩn, đáo cùng vẫn chỉ nhằm mục đích nhiếp dẫn tư tưởng tới chỗ mép bờ bất khả tư nghị của thi ca. Nerval sau những lần thành tựu cõi miền ngôn ngữ đó, ông bèn lao mình vào cõi ẩn mật vô ngần của một nguồn siêu thực không tiếng không lời Les Chimères. Apollineire, sau phút dị thường bước lên tột đỉnh đạm nhiên kia, lập thời nhảy lùi làm thơ theo thể thái bông lông tầm phào, bất sá lam hồng tố bạch. Mai chị về em gửi gì không? Câu hỏi cũng lửng lờ như lời đáp cũng lửng lơ. Hỏi mà cũng không hỏi, không nói, không ngó, không nhìn nhau… Và chỉ sau khi lên ngựa, chia bào, con người mới để lòng mình bay tỏa khắp đường đi. Đường đi không gió lòng sao lạnh Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong Tâm sự của người đi, nhưng nhan đề là kẻ ở. Kẻ ở hay người đi cũng một tâm tình ly biệt. Đi giữa không gian, thì cũng như đứng ở trên dâu biển. Lòng sao lạnh? Vì lòng mang chứa tất cả khoảng vắng lạnh? Vì lòng mang chứa tất cả khoảng vắng lạnh không gian… Và tiếng “mong nhớ mong” kia cũng chỉ vọng vào được trong không gian xa hút mà thôi. Nghĩa là vọng trở lại vào lòng mình. Từ lòng mình toả vào lòng vũ trụ. Lại từ lòng vũ trụ dội lại lòng mình. Đó là cái vòng kỳ ảo của mong nhớ mong. Và mong nhớ mong mênh mông như thế, thì mong nhớ mong là cõi của từ bi tế độ vậy. Bởi vì nó mang hải lượng bao hàm. Nó bao dong rừng biển, sớm chiều, canh gà, sương hoa, cành hoang ngựa lạc. Nó đem thương mến phủ khắp hình hài vạn vật từ gần gũi tới xa tít dặm xa. Quê chị về xa tít dặm xa Vì đó là một quê hương nào riêng biệt nằm tại một bến bờ bỉ ngạn nào vô tức vô thanh, vô biên vô tế. Quê chị về xa tít dặm xa Rừng thu chiều xao xác canh gà Hoa rơi khắp lối sương muôn ngả Ngựa lạc cành hoang qua lướt qua Ngựa lạc? Dẫu ngựa không lạc đường vẫn cứ là lạc nẻo. Nghĩa là: ở trong cõi hư không bao la như thế, thì đâu cũng là lênh đênh, nhưng lênh đênh theo nghĩa vô ngần: trụ vô sở trụ. Người ngồi trên ngựa cũng lạc ngựa luôn. Hươu trong rừng cùng một cảnh ngộ lạc loài như nhau, lại tam trùng lạc lõng nhau, vì bất ngờ sợ hãi nhau, quay đầu bỏ chạy. Lời thơ lại thêm một chút niêm hoa vi tiếu “theo ngó theo”. Ngựa chị dừng bên thác trong veo Nếu thác đục lầy cho một chút, ắt có phần gần gũi bụi hồng hơn. Nhưng tại sao thác lại trong veo cắc cớ ra như thế? Thì trần gian còn biết đem tâm sự hồng trần ký thác vào đâu? Đó là chỗ đạm nhiên huyền bí lô hỏa thuần thanh vậy. Nó đốt cháy linh hồn bằng một tiếng trong veo. Nhưng đốt cháy mà đâu có bỏng da bỏng thịt. Nó cháy để thăng hoa cho linh hồn về ba la mật, sau một phút linh hồn tạm dừng trong một phen tư lự. Vì dù sao trận giũ áo cũng còn vướng víu với nhân nghĩa nhân tình. Ngựa chị dừng bên thác trong veo Lòng chị buồn khi nắng qua đèo Nơi đây lá giạt vương chân ngựa Hưu chạy quay đầu theo ngó theo Rồi xẽ xin khóc một cơn vô ngần cho trùng sinh trong vĩnh biệt: Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang Ngựa chị dừng bên thác sao vàng Sao rơi đáy nước vương chưn ngựa Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng Ta lại gián tiếp với một sự tình kỳ dị. Nói ra là buồn dưng đôi mi hàng lại hàng, nhưng có bao giờ mối sâu mênh mông và hầu như vô đối tượng lại tràn ra thành hàng lệ. Nhưng đây là hàng lệ riêng biệt của hư không đi về vui chơi êm đềm với không hư thái thiên nhiên tĩnh tịch. Người ta có thể khóc, nhưng không phải khóc vì một mối đoạn trường riêng tây trong một cảnh ngộ nhất định. Hoặc đâu có phải bạ đâu khóc đó như bọn thy sỹ trung niên. Người ta khóc từ chín kiếp khóc về; như trận mưa vốn từ thiên thu rớt hột. Vì thế nên gọi là hàng lại hàng. Vì thế nên có chuyện sao rơi đáy nước. Vì thế nên có chuyện sao vương chưn ngựa. Chưn ngựa ở đây cũng mang đủ trùng quan thời gian vũ trụ nên mới có thể chạm vào bóng sao rơi từ thời gian tinh thể rớt về. Người và ngựa và sao và nước bỗng nhiên như nhiên đã đi vào cõi chung vạn vật nhất thể. Thì từ đó trở lại với đoạn đầu, từ câu hỏi mông lung tới lời đáp nhẹ nhõm, niềm mong nhớ mong là một tặng vật không lời, không nhất định là riêng biệt của riêng ai trao gửi lại cho ai. Người chị và người em kia cũng không có tên tuổi nào được hạn định nơi đâu. Đó là hai đứa con của trời và đất đẻ ra trong một mùa xuân hôn phối. Thì mai chị về em gửi gì không, là gửi cho chị hay cho ai? làm sao ta dám quyết định? Chỉ biết rằng: chị hãy nhớ má em hồng. Nghĩa là: mùa xuân xanh còn tồn lưu mãi mãi trong mùa thu ly biệt. Đó là tặng vật của em trời trao chị đất – nhớ má em hồng là ký ức kỳ ảo Mnémesyne. Chẳng hiểu sao đọc thơ Quang Dũng, Nguyễn Du, Hồ Dzếnh, Huy Cận, tôi thường nghĩ tới người Chiêm Thành. Tội lỗi ông cha chúng ta đối với dân tộc ấy kể cũng được chuộc phần nào, cũng như ngày xưa Homère đã giải oan cho người Troyens bị đắm chìm bởi người Hy Lạp. Mấy bài thơ của Quang Dũng như giữ lại cho mọi người một niềm tương ứng mênh mông trong thời đại ngỗn ngang oan nghiệt, thế giới cùng xô ùa nhau vào hủy diệt, tàn phá, trong những trận tẩu hỏa nhập ma. Chiến tranh trong thời Quang Dũng dù sao cũng còn để lại cho người một dư địa để hoài niệm nhớ thương nhau. Nhưng dần dà, chút tình thương còn sót cũng mất đi giữa hỗn độn. Lúc bấy giờ e chỉ còn cửa quỷ đối thoại với nhà ma. Quang Dũng cũng linh cảm sự đó, nên bài “Đôi Mắt Người Sơn Tây” khép lại với mấy tiếng “bao giờ, bao giờ” ngậm ngùi khôn tả: Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn? Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng Bao giờ ta gặp em lần nữa Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa Đã hết sắc màu chinh chiến cũ Còn có bao giờ em nhớ ta Khoảng trống lại trở về ngập khắp mép bờ ngôn ngữ. Như muốn đánh chìm hết mọi lời thân thiết đã thốt ra. Chúng ta không còn biết phải giải thích thơ Quang Dũng ra sao được nữa cả. Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa Nhưng có lẽ ông không tin ở ngày ấy, ông không nghĩ rằng ngày nở hoa ấy sẽ về. Còn có bao giờ em nhớ ta? Nghĩa là không còn có bao giờ nữa cả? Chúng ta sẽ tiếp tục chết hết. Người ta sẽ tiếp tục giết nhau cho tới buổi chung cục thời gian. Cuộc chiến tranh ngày nay không còn chút gì giống như chiến tranh những thời đại trước. Có những cuộc chiến tranh huy hoàng như một trận mưa rào rực rỡ, làm hồi sinh con người trong tâm thức từ bi. Nhưng có những cuộc chiến tranh vốn từ trong tinh thể là làm tan rã tiêu diệt mất bản tính con người. Ngay cả con ngợm, con đười ươi cũng không còn sống sót một mống nào hết cả. Thì như thế? Còn có bao giờ em nhớ ta? Người ta nhầm lẫn một cách kỳ quặc cái ý nghĩa sơ thủy của chiến tranh. Cuộc chiến tranh bao dong của những ông Nguyễn Huệ, chiến tranh bác ái của những ông Napoléon, chiến tranh đó không còn tự nhận diện ra mình nữa trong cuộc chiến tranh tàn phá ngày nay. Tolstoi ngày xưa chẳng hiểu gì về Napoléon hết cả, cũng như chúng ta ngày nay chẳng hiều gì cả về cuộc chiến tranh của chúng ta. Thật là cắc cớ. Còn có một chân lý dị thường ẩn tàng trong Dịch Kinh của Khổng Tử đang khiến mọi người tư tưởng ngậm ngùi không còn biết phải thốt bất cứ một lời gi trong hiện trạng năm châu. Bài thơ Quang Dũng hiện ra tại chỗ chênh vênh bát ngát và thê thảm nhất trong sử lịch con người. Nó chỉ đạm nhiên và thống thiết khơi rộng những khoảng trống vắng ra để cho mọi vấn đề được nhận định và tự tìm lời giải đáp. Bàn luẩn quẩn mãi là vô lối. Chỉ nên thong dong đọc thơ như uống nước mía, như dõi theo cánh chuồn chuồ, như nằm ngủ gọi em Thúy Kiều em Thúy Vân em Đạm Tiên, em Hoạn Thư em Bạc Hạnh, em Sở Khanh, em Mã Giám Sinh, mọi mọi em em của em Tố Như Tử em Liệp Hộ em Thanh Hiên, em Hiền em Thánh, em Cành em Nhánh, em Trái Ớt, em Muối Tiêu, em Soài Riêng sa rụng, em Bương Cấn em Sài Sơn… Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc Sáo diều khuya khoắc thổi đêm trăng. Tuy nhiên riêng đối với học sinh đang tập đi thi để cuối năm cưới vợ thì chớ nên lẩn thẩn chiêm bao đọc thơ nhiều quá. Trích Đi Vào Cõi Thơ - Bùi Giáng
_____________________________
tuổi già vây chặt chiêm bao lối về
|
|
|
|
RE: Về một bài thơ của Quang Dũng. - 8/17/2011 12:40:16 AM
|
|
|
Kuclanga
Thành viên đang: offline
|
Anh Thanhthuduc lại làm em nhớ tới người iu trong mộng của em rùi
_____________________________
Một câu văn đâu được chấm hai lần.
|
|
|
|
Bài Mới |
Không có Bài Mới |
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) |
Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới) |
Khóa (có bài mới) |
Khóa (không bài mới) |
|
Đăng Đề Mục Mới
Trả Lời
Trưng Cầu
Ý Kiến của Bạn
Xóa bài của mình
Xóa đề mục của mình
Đánh Giá Bài Viết
|
|
Login|
khanhly.net|
Diễn Đàn Chính|
Bài hôm nay|
Bài mới|
Góc riêng|
Thư riêng|
Các thành viên|
Tìm kiếm|
Log Out
0.188
|