CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký
|
Tham gia dưới tên: Guest
|
|
Cùng đọc bài với bạn: không
|
|
Tên login | |
|
CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký - 10/12/2003 4:53:47 AM
|
|
|
NcT Bội Ngọc
Thành viên đang: offline
|
Petrus Ký sinh năm 1837-1898. Quê ông ở Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long. Ông là con một viên quan lãnh binh triều Nguyễn, lúc nhỏ học chữ Hán, chữ quốc ngữ, được một linh mục đưa về Cái Nhum học tiếng La tinh rồi chuyển qua một trường đạo, rất giỏi tiếng La Tinh, thông thạo tiếng Pháp, Hy Lạp, Anh, Ấn Độ, Nhật. Năm 1865 làm thông ngôn phiên dịch cho phái đoàn Phan Thanh Giản sang điều đình với chính phủ Pháp. Năm 31 tuổi ông là chủ bút cho tờ Gia Định báo và tờ An Nam chính trị và xã hội . Sau ông được cử vào Viện Cơ Mật của Nam triều tức triều đình nhà Nguyễn, làm giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh. Về sau bị thực dân Pháp bỏ rơi, bạc đãi. Ông về ở vùng Chợ Quán, đọc sách, viết sách trong cảnh túng thiếu với một tâm trạng bi quan, tuyệt vọng.. Trương Vĩnh Ký thông thạo nhiều sinh ngữ, phương Tây và phương Đông. Ông là người ham hiểu biết, ham tìm tòi học hỏi, ghi chép và được coi như lá 1 trong 18 nhà học giả uyên bác nhất trên thế giới vào thời đó. Ông là một nhà bác học lớn của miền Nam Việt Nam. Ông để lại cho hậu thế 118 tác phẩn lớn nhỏ bằng tiếng Việt lẫn tiếng Pháp không kể nhiều công trinh còn dở dang. Chuyến đi bắc kỳ năm Ất Hợi (1876) là một bút ký quý giá và hiếm hoi viết bằng chữ quốc ngữ thế kỷ XIX. Đây là một chuyến đi suốt dọc nước Việt Nam từ Nam chí Bắc được ông ghi chép một cách tỉ mỉ với một hiểu biết sâu sắc về lịch sử của một nhà bác học nhiều kinh nghiệm vì thế cho nên tác phẩm nầy rất có ích cho việc tìm hiều đất nước. Ông viết rất chân tình về cảnh vật, phong tục tập quán và vì vậy tạo cho tác phẩm có một nội dung hàm súc và giá trị. Dù trong thời buổi của ông, chữ quốc ngữ chưa được dùng hoàn toàn chung cho cả nước, nhưng đến nay gần 150 năm sau, đọc lại lối viết tiếng Việt của ông người ta vẫn không bị mù mịt, khó hiểu. Ngày trước, và gần đây Trương Vĩnh Ký có vẻ như bị kỳ thị bỏ rơi vì ông là người miền Nam theo Tây học và hợp tác với Pháp. Ngày nay ta nên xét lại mà đưa ông trở về ngôi vị xứng đáng thực sự của một nhân tài đất nước. * Năm Ất Hợi (1876) bãi trường tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi một chuyến cho biết. Trong bụng muốn cũng đã lâu; bèn cáo với quan trên, nhơn dịp chiếc tàu Duchăfaud đi mà đi.. Về sắm hòm rương áo quần. Rủ thầy ba Hớn với ông sáu Thìn, nguyên một người ở tỉnh Bắc Ninh, một người ở Sơn Tây mà vào trong Nam Kì đã lâu, đi theo, trước là cho có bạn, sau nữa là cho họ về thăm quê quán. Qua ngày 18 tháng chạp đề huề xuống tàu. Sớm mai giờ thứ 9 mới nhổ neo. Vợ con đi đưa, ngồi xe đi rảo trên bờ cho đến tàu quay trở rồi riu ríu xuống đồn Cá Trê, mới về. Xế giờ thứ hai ra cửa Cần Giờ, chỉ mũi chạy ra mũi Né. Tới cửa Hàn Ngày 21 vô vũng Hàn vừa giờ thứ 5 chiều. Vô đó mà đưa ông Nguyễn Hữu Độ, là quan triều sai vô, lên mà về kinh. Đậu ngủ đó một đêm. Chạy hai ngày ruỡi nữa, vô thân trong Cát Bà đậu tại đó (ngày 25 hồi giờ thứ 10). Đến giờ thứ nhứt rưỡi qua tàu Aspic mà lên Hải Phòng (đồn Ninh Hải). Tới Hải Phòng Lên bờ đi thăm quan lãnh sự (M.Turc) rồi qua bên kia sông tới trọ nhà chú Khách Wan Sing. Sáng bữa sau lại qua ăn cơm nơi quan lãnh sự, rồi đi thăm các thầy làm việc ở đó cho (chơi?) luôn. Lên Hải Dương Tối lại đi theo thuyền ông thương biện lương quen khi đi sứ bên Tây năm 1863 mà lên tỉnh Hải Dương. 27 tới tỉnh. Vào thành ra mắt quan lớn là ông Phạm Phú Thứ làm thương chánh đại thần kiêm tổng đốc tỉnh Hải Dương và tỉnh Quảng Yên, có quen thuở đi sứ bên Tây. Ngài mầng rỡ lắm. Nội ngày cũng tới viếng ông tuần phủ Nguyễn Doãn, nguyên trước có quen khi vô giao hòa lần sau tại Gia Định. Đi Lên Hà Nội Các quan cầm ở lại đó chơi, ăn tết rồi hãy lên Hà Nội. Khi ấy là mùa Đông, trời rét lạnh nên ăn cơm ngon lắm. Mấy bữa ấy, hội các quan lớn nhỏ cả tỉnh đủ mặt; khi ăn khi uống chuyện vãn cả đêm cả ngày. Quan đại lại bày làm rạp hát cho ba bữa luôn, coi hát bội cho no, rồi lại hát nhà trò. Vui vầy với nhau thế ấy cho tới mồng 6 tết, chiều giờ thứ nhứt mới lên võng lên cáng mà đi dường bộ lên thành Hà Nội. Trước hết nghỉ chơn tại cái chùa kia. Qua cung sau, nghỉ Ngạt Kéo, mặt trời chen lặn tới huyện Cẩm Giàng. Ông huyện tên là Dương Xuân ra mời vô nhà nghỉ đó. Sáng cơm nước rồi giờ thứ 8 từ giã ra đi. Tới Hà Nội Từ Cẩm Giàng lên cho tới Hà Nội nghỉ 4 chặng: Quán Cầu Đất (giờ thứ 10) Tại Đồng Súng (giờ thứ 12 trưa) Ngã Tư Dầu (giờ thứ nhứt rưỡi) Chợ Bún (giờ thứ 3 rưỡi) Giờ thứ tu rưỡi chiều ra tới bờ đê, đi trên đường quai xuống mé sông Bồ Đề, mướn đò đưa qua cửa Phố Mới. Giờ thứ 8 tối nhà Hương Công là khách thương Gia Định ra mua hoa chi nha phiến đó. Ở lại thành Hà Nội Sáng ngày ra đi thăm ông de Kergaradec làm lãnh sự Lang Sa tại Hà Nội, còn ở đở trong trường thì của An Nam. Ra gặp ông điều lộ Lang Sa tên là Jardon cầm ở lại ăn cơm sớm mai đó. Rồi ra khỏi đó, thầy ba Hớn đem vô nhà bá hộ Kim ở hàng xà cừ chơi, đi coi hàng xà cừ một dãy đó là người có đạo cả. Luôn đường lại rủ nhau đi coi cảnh chùa ông Nguyễn Đăng Giai lập ở mép bờ Hoàn Gươm. Coi chùa Nguyễn Đăng Giai Nguyên thuở ông Nguyễn Đăng Giai ngồi tổng đốc tại Hà Nội, người bày ra cho đi thu quyên tiền quan dân mà lập nên kiểng chùa thờ Phật. Làm cũng đã công phu lắm, tốn tiền gạo hết nhiều, nên mới có bài thơ học trò Bắc chê ông ấy rằng: Phước đức chi mầy bố đĩ Giai? Làm cho tốn Bắc lại hao Đoài Kìa gương Võ Đế cò treo đó, Ngạ tử Đài thành Phật cứu ai? Cảnh chùa ấy thật đã nên là tốt: vô cửa hai bên có tháp cao. Vào trong có hồ đi quanh co vòng theo chùa, lại ăn lọt dưới chùa nữa, hai bên mép xây gạch xây đá cả. Cầu bắc tứ phía qua chùa đều cùng xây đá gạch hết hẳn hoi. Xung quanh bốn phía có nhà hành lang chạy dài ra sau giáp nhau. Trong chùa đàng trước để tượng Phật đứng bàn cả đám, hình lớn to, quang thếp cả. Hai bên sau có làm động và tháp điện, đều bong hình nổi ra hết. Đàng sau có đền, có tạc hình ông Nguyễn Đăng Giai. Phải chi nhà nước lo tu bổ giữ gìn thì ra một cái kiểng rất xinh rất đẹp. Mà nay thầy chùa thầy sải ở đó, cạy gạch bán lần đi mà ăn, nên hư tệ đi uổng quá. Hồ Hoàn GươmNgoài cửa có cái hồ Hoàn Gươm rộng lớn; giữa hồ lại có cái cù lao nhỏ nhỏ có cất cái miếu Ngọc Sơn, cây cối im rợp huyền vũ coi tươi tốt. Nhà thiên hạ phố xá ở bao lấy miệng hồ. Hồ nầy ở tại cửa đông nam tỉnh thành. Người ta truyền rằng vua Lê Thái Tổ ngự thuyền dạo chơi trong hồ, có con qui lớn nổi lên, vua lấy gươm chỉ nó, nó ngậm gươm nó lặn đi. Có kẻ lại rằng: vua Lê Thái Tổ thuở xưa được gươm thần, ấn thàn, bèn khỉ binh, lấy để truyền làm báu đời. Đến đời vua Lê Thánh Tông mất thì gươm ấy đều mất đi.. Sau người ta thấy đầu gươm nổi dưới hồ, thò tay lấy nó, nó lại thụt mất đi, nên gọi là hồ Hoàn Gươm. Đời sau lấy chỗ ấy làm chỗ tập binh thủy, nên cũng có kêu tên là hồ Thủy Quân nữa. Lúc năm Vĩnh Hựu có lập Thoại Cung (Khánh Thoại) đắp gò Đào Tư gò Ngọc Bội mà tượng việc võ công. Sau lập ra hai sở, sở bên bắc kêu là tả vọng hồ¡ , sở bên nam kêu là hữu vọng hồ . Có truyện ngoài lại nói ông Lê Lợi sau là vua Lê Thái Tổ thưở hàn vi đi chày dưới hồ ấy mà được cán gươm vàng. Tích nó làm vầy: Thuở ấy nhà Trần suy di, bị Hồ Quý Ly chiếm ngôi; lại bị nhà Minh bên Tàu qua đánh lấy nước nói để lập con cháu nhà Trần lại, mà không có làm. Có ông Nguyễn Thuần có chí khí hay cần vương tá quốc, mới đi lên non lên núi mà tìm con cháu dòng tiền Lê, lo lấy nước lại. Đi bơ vơ tối chun xà vô cái miếu ở dựa mép đường đi mà ngủ. Khuya lại nghe tiếng kêu: ớ anh? Sao chưa sắm sửa đi chầu? Thì nghe tiếng đáp lại rằng: Thôi anh có đi, thì xin kiếu giùm cho tôi chút, nay tôi có khách; bãi châu rồi về có sự gì nói cho tôi hay với. Nguyễn ngủ lại, sáng ra lại nghe tiếng ứng kêu mà nói trên Thiên đình đã định cho Lê Lợi làm vua. Nguyễn dạy mới càng đi tìm sát lắm. Tới chỗ kia gặp Lê Lợi đang cuốc đất làm rẫy, Nguyễn vùng kêu là anh, chào mừng nói là bà con anh em con chú con bác. Ở đó hẩm hút với nhau. Nguyễn ở nhà vỡ dất trồng trặc gặp được cái lưỡi gươm, còn Lê Lợi đi chài dưới hồ Gươm lại được cái cán, đem về. Nói chuyện với nhau, đem ra rửa lắp lại vừa khít, mà lại là vàng cả. Nguyễn nói điềm làm vua chắc. Lo rèn khí giái, lập binh. Động lại dắt nhau chạy. Tới nơi kia cũng cứ làm rẫy nuôi nhau: Lê Lợi ra đi bụi cắc cớ ngồi trên hai go mối. Sông rồi thây dơ, mới lấy chơn đạp gò mối mà lấp đi, chẳng ngờ được một cục gì nặng vuông vuông, cầm đem về cho Nguyễn. Nguyễn rửa ra coi thì là cái ấn ngọc. Nguyễn mới đắc ý thì trời đã tối, mới giục Lê Lợi ra khỉ nghĩa mà đánh Minh. Tối mắc quan lãnh sự mời ăn cơm, nên liên đường đi chơi, rồi về lãnh sự ăn cơm. Cuối canh hai mới về nhà trọ mà ngủ. Đức thầy Phước (Mgr Puginier) thật đã có lòng; cầm ông sáu Thìn với thầy ba Hớn lại ở đó nói chuyện mà chờ khuya lơ khuya lắc.Té ra qua sáng bữa sau mới đi thăm đức thầy được. Người mầng rỡ hỏi thăm hỏi lom đủ. Rồi cầm ở lại dùng cơm với người, co cố Mĩ (P.Landais) là thầy chính sở Hà Nội và cố Phước (P.Bonfils) là kí lục người đồng bàn trò chuyện vui vẻ lắm. Xế qua mới từ tạ các đấng mà về nhà Công ty cũng ở một dãy đó. Mới bàn với nhau kêu thợ may mền lót bông, áo quần dồi bông kẻo trời đông thiên lạnh lẽo lắm. Bữa sau mồng 10 tháng giêng, còn lẩn quẩn coi những đồ đặt làm ngày chưa ra, và mua đồ vặt lụa hàng, đũi mẫu tư (Hưng Yên). Hiệu Huỳnh lục kí là chủ đồ hàng Quảng Đông giâu gởi thiệp mời đi uống rượu với ông Hương Công. Tối về lại hầu đức thầy. Sáng ra, chúa nhựt xem lễ tại nhà đức thầy. Rồi về nhà trọ nghỉ. Đức thầy mới cho cố Mĩ tới thăm thay vì người, vì không phép người đi tới nhà chệc khách mà đi thăm lại. Giờ thứ nhứt chiều đang nghỉ trưa, vùng có người vào báo rằng: quan tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc ở trong thành ra, đi tiền hô hậu ủng (củng) tới tại nhà Công ty tìm mà thăm. Bịt khăn, mặc áo tiêm tất ra rước người vô. Ngồi nói chuyện với người cho tới giờ thứ 3 người mới về thành. Ông tổng đốc nầy là người trong Quảng, con nhà trâm anh, làm quan đã nhiều đời, đâu cũng bảy tám đời. Người đã lớn tuổi ngoài 70, mà còn sỏi lắm. Tối lại đi lại hầu đức thầy. Rạng mặt 13 cho ông sáu Thìn đi mua đồ vặt: rương chữ thọ mà đựng đồ: sách vở, giấy mực, đồ cần . . .Chiều lại giơ thứ 3 rưỡi, mơi đi vô thành mà trả lễ cho quan thượng. Có gặp quan bố tới hâu đó nữa. Tối về Công ty đãi tiệc rượu có nhà trò một bữa. Khi ấy thấyy ba Hớn đã xin tách ra đi về tỉnh Bắc (Bắc Ninh) thăm bà con đi rồi, còn lại có một ông lão Sáu. Mấy bữa 14, 15, 16, quan thượng mời vô thành ăn cơm với người rồi cho một ông đội hầu đem đi dạo coi các nơi chơi. Đền Kính Thiên Trước hết vô hoàng thành cũ. Lọt khỏi ngũ môn lâu lên đền Kinh Thiên. Đền ấy nền cao lắm, có 9 bậc xây đá Thanh, hai bên có hai con rồng cũng đá lộn đầu xuống. Cột đền lớn trót ôm, tinh những là gỗ lim cả. Ngó ra đàng sau còn thấy một hai cung điện cũ chỗ vua Lê thuở xưa, bây giờ hư tệ còn tích lại đó mà thôi. Cột cờ Ra ngoài cửa ngũ môn lâu, thẳng ra cửa Nam, có cột cờ cao quá xây bằng gạch, có thang khu ốc trong ruột nó mà lên cho tớI trên chót vót. Leo lên thôi đà mỏi chân mỏi cẳng. Ra lại chuồng cu đùng ngó mông, thấy núi non xa gần, nhắm nhìn chót núi Tản Viên. Không dám ngó xuống vì ngợp lắm. Một bận đi xuống cũng hết hơi. Đền CôngĐi lại cửa tây ra ngoài thành coi đền Công. Chỗ ấy huyền vũ có cây cao lớn sum sê, rễ nó xõ xà leo với nhau như rế, mát mẻ, im rợp quá. Tượng ông thánh đồng đenở Hồ Tây Ra cửa ô Bưởi đi coi chùa Trấn Võ Quan, tục gọi là ông thánh đồng đen, ở một bên mép hồ Tây, tượng ấy là tượng ngồi cao lên tới nóc chùa, đúc bằng đồng đen cả. Tóc quăn như đầu Phật, mặt cũng tựa tựa , còn từ cổ sấp xuống thì ra như hình ông thánh Phao Lồ, một tay chống lên cán cây gươm chỉ mũi lên trên mu con rùa, một tay thì ngay ngón trỏ mà chỉ lên trời, chơn thì đi dép. Có chữ đề mà đã mòn đã lu đi coi không ra. Chùa Một Cột Coi rồi mới ra đi xem chùa Một Cột, là cái miếu cất lên trên đầu cây cột đá lớn trồng giữa ao hồ. Nguyên tích ai lập ra thì người ta nói mờ ớ, không biết đâu làm chắc cho mấy. Cứ sách sử kí và Đại Nam nhứt thống chí, thì chùa ông thánh đồng đen kêu là Trấn Võ Quan tự, ở về huyện Vĩnh Thuận, phường Đoan Chương đời nhà Lê, năm Vĩnh Trị, năm Chánh Hòa, vua Hi Tông (1675) sửa lại đúc tượng đông den cao 8 thước 2 tấc, nặng 6.600 cân, tay hữu chống trên cây gươm, chỉ mũi trên lưng con rùa, có rắn vấn quanh theo vỏ gươm. Trong sử nói đời Thục vua An Dương vương bị tinh gà ác và phục quỉ núi Thất Diệu, mà nhờ có thần hiện trên núi Xuân Lôi thuộc về tỉnh Bắc Ninh trừ ma phá quỉ hết đi thì vua dạy lập miễu phía bên bắc thành vua mà thờ là thần, đặt hiệu là Trấn Thiên Chân Võ Đế Quân. Thuở Minh Mạng năm thứ 2 vua ngự ra Băc có ban 50 lượng bạc, lại một cái áo võ tư vàng. Năm Thiệu Trị thứ 2, vua ngự có ban tiền vàng 1 đồng, áo vàng 1 cái, một bài thơ và 1 đôi liễn nữa. Còn chùa Một Cột, thì cũng ở hạt huyện Vĩnh Thuận, làng Thanh Bửu, ở giữa cái hồ vuông, có trụ đá cao trót trượng, yêu viên chừng 9 thước, trên đầu có cái miễu ngồi chồng lên như cái hoa sen ở dưới nước ngóc lên. Sử chép rằng: Thuở xưa vua Lý Thái Tông nằm chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi toà sen dắt vua lên đài. Tỉnh dậy học lại với quần thần, sợ điềm có xấu có hệ chi chăng. Thì thầy chùa thầy sải tâu xin lập ra cái chùa thể ấy đặng cho các thầy tụng kinh mà cầu diên thọ cho vua, thì vua cho và dạy lập ra. Qua đời vua Lý Nhan Tông sử lại, bồi bổ, lập tháp, đào ao, xây thành, làm cầu, tế tự, hễ tháng tư mông 8 vua ngự ra đó kì yên. Lại đúc chuông, mà đúc rồi, chuông đánh không được kêu nên bỏ ra ngoài Qui Điền. Đời vua Lê Thái Tổ đánh giặc với quân nhà Minh, vây trong thành Đông Quan binh khí hết đi, nên quân Minh lấy mà đúc súng, đúc đạn đi. <<Còn tiếp>> (trích đăng từ Việt Sử Tân Khảo của Nguyễn Công Tánh)
<Edited by: NcT Bội Ngọc -- 3/31/2004 4:08:25 PM >
|
|
|
|
Việt Sử Tân Khảo - 10/12/2003 11:34:13 AM
|
|
|
hshbo
Thành viên đang: offline
|
Hi NcT, Tư liệu này thật quý. Bơ có thấy comment "còn tiếp" bên dưới nhưng viết chỗ khác sợ anh khó theo dõi, Bơ xin phép chen vào đây một chút. Vừa rồi Bơ thấy anh có nhã ý tặng bạn bè ĐT bộ Việt Sử Tân Khảo là công trình nghiên cứu công phu của anh và nhóm bạn, Bơ cảm động quá. Lịch sử Việt Nam mình cho đến nay không phải ai cũng hiểu rõ. Bỗng thấy buồn khi lịch sử Trung Quốc phần lớn người Việt thuộc hơn lịch sử chính đất nước mình. Còn nhớ hồi đề nghị anh Cả Ngố mở mục Lịch Sử cũng là lúc Bơ bồi hồi sau khi đọc xong câu chuyện một công chúa triều Nguyễn đã bị Vua cha xử phạt chém đầu khi Công chúa đem lòng yêu người ngoại quốc. Đất nước mình trãi qua nhiều trắc trở gian truân chắc chắn có nhiều uẩn khúc xung quanh việc nước việc nhà, tình riêng, nghĩa lớn. Bơ ước gì có sách sử ghi chép hay có tài liệu cho phép mình tìm hiểu để biết thêm về thời ông cha ngày trước. Cho đến nay mục Lịch Sử ĐT đã có nhiều tài liệu và hình như bộ Sử của NcT là giống ý Bơ mơ ước nhất. Vì tài liệu đi từ đầu sẽ giúp cho Bơ dễ đọc hơn. Khi lập mục Lịch Sử ở PX này cũng không ngoài mong ước ngày nào của Bơ. Mong có được Bộ Sử ký trọn vẹn các triều đại Vua Chúa VN. Anh có thể vui lòng cho PX niềm vinh hạnh có được Việt Sử Tân Khảo không?
|
|
|
|
RE: Việt Sử Tân Khảo - 10/12/2003 7:45:03 PM
|
|
|
NcT Bội Ngọc
Thành viên đang: offline
|
Chị HSHB thân mến, Chị có đồng ý đưa trọn bộ VSTK lên Phố Xưa dưới dạng PDF kèm theo đầy đủ hình ảnh? Nếu Chị đồng ý thì xin chị bàn với chị Phượng Các vì hiện giờ chị PC đang có bộ sử nầỵ Dĩ nhiên là NcT cũng sẽ gửi đến biếu Chị HSHB một CD trong tương lai. Mến .
|
|
|
|
RE: Việt Sử Tân Khảo - 10/14/2003 12:40:36 AM
|
|
|
hshbo
Thành viên đang: offline
|
Bơ thật cảm động với món quà quá quý giá như thế này, dù biết lời nói cám ơn cũng không xứng nổi công lao của người biên soạn nhưng xin anh nhận nơi Bơ lời cám ơn chân thành nhé. Bơ vẫn mong được post cả bộ sử này lên PX nhưng coi bộ khó rồi. Với kích thước hơn 80MB, PX host vất vả quá. Lực bất tòng tâm biết làm sao đây?!!
|
|
|
|
RE: Việt Sử Tân Khảo - 10/14/2003 2:52:37 AM
|
|
|
NcT Bội Ngọc
Thành viên đang: offline
|
Mến gửi chị HSHB, Anh Cả Ngô đã nhận việc nầỵ Nhưng forum Lịch Sử của chị HSHB cũng sẽ có VSTK từ Giai đoạn II (từ Tự Đức đến khi triều nhà Nguyễn chấm dứt). Quyển I gần xong, nhưng NcT có thể đăng lên từ từ trên Phố Xưa để các bạn hữu xa gần góp ý xây dựng. Không có gì phải sorrỵ Mến,
|
|
|
|
RE: CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký - 10/27/2003 2:35:52 AM
|
|
|
NcT Bội Ngọc
Thành viên đang: offline
|
Chuyến Đi BẮC KỲ NĂM ẤT HỢI (1876) bút ký của Petrus Trương Vĩnh Ký(tiếp theo) Hồ Tây Cái Hồ Tây ở tại huyện Vĩnh Thuận, phía tây thành Hà Nội, kể chu vi nó được 20 dặm, nước sâu từ một thước cho đến một trượng; thuở xưa tên nó kêu là Lảng Bạc. Nước nó trong ve trông vào như mặt kính vậỵ Thường người ta phiếu hàng lụa. (phiếu: là giặt, là vã vào nước cho vãi, lụa trắng ra) thì đều dùng nước hồ ấy mà làm. Tục ngoài ấy hay nói: Làm người phải cho có ý, người nào mang bị là người Tây Hồ: mang bị là mang hàng lụa đi đến đó mà giặt mà xả. Đời xưa các vua có làm cung điện mà chơi đó. Như đời vua Lý Nhân Tông ngự thuyền nhỏ đi chơi, mà bị Lê Văn Thạnh làm thuật hóa cọp mà nhát, nhờ Mục Thận vãi chài chụp được. Vua Trần Dũ Tông khi còn nhỏ đi dạo thuyền té dưới Hồ Tây, nhờ có thầy Trâu Canh cứu được cho khỏi chết. Vân vân. Người ta truyền miệng rằng có con Kim Ngưu (Kim ngưu: là trâu vàng) ở núi Lảng Kha chạy nhủi (Nhủi: trốn) dưới hồ ấỵ Rồi đời Cảnh Hưng, nước hồ nó đổi sắc đi. Lại nói phía đông hồ thường đêm có thấy một con trâu ăn cỏ đó, mà hể người ta lại gần thì nó hụp xuống hồ mất đi. Cách ít lâu sau, mưa dông sấm chớp luôn cả một đêm, sáng ra thấy dấu trâu ở trong hồ ra mà sang qua sông Nhĩ Hà. Sau tiệt đi không thấy nữa. Xung quanh mép hồ nhà dân sự ở đông. Đã nên là một kiểng sơn thủy quá vui quá đẹp, phải mà sửa soạn bồi bổ cho hẳn hoi, thì lại càng ra xinh ra đẹp hơn nữa bội phần. Văn Thánh Miếu Đó rồi đi coi Văn thánh miếu ở tại phía tây nam tỉnh thành, tại huyện Thọ Xương, làng Minh Giám, là chỗ thời nhà Lý, vua Thánh Tông đi tế tượng thánh Khổng Tử và bốn vị á thánh, lại 72 sĩ hiền. Sau miễu, hai bên tả hữu có bia tấn sĩ tạc đá xanh, dựng lưng qui sắp hàng từ đời kia qua đời nọ nhiều lắm. Đời nhà Trần, nhà Lê cũng nhân đó mà làm luôn. Đời Gia Long có lập thêm cái Khuê văn các trong cửa Nghi Môn. Coi rồi lại lộn về cửa nam, vô coi tàu voi, rồi trở về nhà trọ nghỉ. Tối lại hầu đức thầỵ Rằm quan thượng thư trong tỉnh cho mời vô thì cơm(thì cơm: còn viết là thời cơm có nghĩa là ăn cơm, xơi cơm) với ngườị Người cho đi bắn cò chim về uống rượu, lại hối bà lớn và các cô làm mắm rươi hai ba thứ cho mà ăn thử với thịt kẻo chưa biết. Người ham hỏi chuyện và nói chuyện lắm, cả ngày coi sách coi vở luôn. Người ăn học lịch lãm đã nên là có công. Hầu quan lớn một buổi, từ giã người ra về Phố mớị Mua đồ sửa soạn, sắp đặt cho sẵn; trả tiền trả bạc đồ mua đồ đặt cho xong đi. Tối cũng lại hầu chuyện đức thầy Phước. Kế lấy được thơ thầy ba Hớn ở Bắc Ninh mời qua một bữa chơi cho biết xứ. Thì đã lo võng dá đặng sáng bửng tưng ra có đị Ai ngờ mới mờ mờ đất, trong thành quan thượng cho ra mời vô vì có ông đại thần dưới Hải Dương lên, nên đi không đặng, phải cho ông sáu Thìn thế hành (thế hành: thay thế để đi) lên cáng tuốt qua Bắc Ninh với thầy ba kẻo trông. Vừ đâu thấy quân gia kéo đỏ đường vô thành, ấy là quan đại nhập thành. Ở trong thành thăm các quan cho đến trưa mới về được. Xế lại đi xuống trường thi thăm các quang Lang Sa; về nai nịt đồ đạc tính có lo lộn xuống Hải Dương về Hải Phòng mà về Gia Định. Bữa sau 17 tháng giêng trưa ông sáu Thìn với thầy ba Hớn ở tỉnh Bắc Ninh mới về. Bà với nhau sự về bữ 19. Vậy nhứt diện kiểm điểm đồ lề, nhứt diện đi thăm viếng từ tạ các quan tây nam cả. Về nhà công ty đãi đưa chơn một bữạ Chiều lại vô quan thượng từ tạ mà về, người có cho một ông đội và sáu tên lính đi theo đưa xuống tỉnh người Đông. Rạng mặt 19 đi từ giã đức thầy, các cố, các cụ. Giờ thứ 8 xuống thuyền qua sông Bồ Đề, vô ngã sông Giâu, xuống Lục Đầu Dương, sông Thiên Đức. Giờ thứ 4 rưởi ngày 20 tới tỉnh Hải Dương. Đi ngã ấy có qua cái thác. Tức cười cái mụ đò. Ai nấy lên bờ đi bộ bớt cho nhẹ thuyền; mình với thầy ba Hớn ở lại để coi nó xuống thác thể nàọ Thấy nước chảy thật nên gớm. Thuyền gần tới thác, mụ đò thắp nhang, đốt giấy vàng bạc, vái lớn tiếng cách nghiêm trang tề chỉnh. Rồi hai mẹ con ôm chèo kềm lái cho vững để nước tống chiếc thuyền chạy trợt xuống một cái gọ gàng. Thuyền tới tỉnh đậu lại tại bến Hồ. Sáng ra mới lên thành vào quan đại từ giã các quan, xin lui về Hải Phòng. Ở đó cả ngày 21, tối các quan cầm ngủ trong thành, tiễn nhà trò một bữa vui lắm tại nhà học có đủ mặt các quan. Đây rồi ta xuống Hải Phòng. Ma ta để đình việc đi một lát, mà nói về tỉnh Hà Nội và Hải Dương, là những tỉnh ta đã đi qua cho biết hành tích địa thế nó ra làm sao mà nghe mà chơi đã, rồi sẽ nói về chuyện đi đứng các chỗ khác.
<Edited by: NcT Bội Ngọc -- 3/31/2004 4:13:12 PM >
|
|
|
|
RE: CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký - 3/31/2004 7:52:39 PM
|
|
|
NcT Bội Ngọc
Thành viên đang: offline
|
TỈNH HÀ NỘI Xin đón đọc: đang chuyển sang dạng font Unicode để gửi lên Xin tha lỗi vì để quý bạn chờ đợi quá lâu. Thân mến. NcT Bội Ngọc
<Edited by: NcT Bội Ngọc -- 3/31/2004 4:11:42 PM >
|
|
|
|
RE: CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký - 3/31/2004 9:50:24 PM
|
|
|
hshbo
Thành viên đang: offline
|
Welcome back anh Bội Ngọc, Lâu quá mới gặp lại, anh khoẻ không?
|
|
|
|
RE: CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký - 4/5/2004 9:14:43 AM
|
|
|
NcT Bội Ngọc
Thành viên đang: offline
|
Tỉnh Hà Nội Tỉnh Hà nội từ Đ (đông) qua T (tây) 25 dặm, từ N (nam) qua B (bắc) 129 dặm. Giáp giái (giáp giới) Đ chạy tới mép sông Nhĩ Hà, bên kia về tỉnh Bắc Ninh T giáp giái tỉnh Sơn Tây N chạy tới sông Thanh khuyết ngang tỉnh Ninh Bình B chạy tới bờ sông Nhĩ Hà, ngang địa phận tỉnh Bắc Ninh Từ tỉnh thành lấy vô tới Kinh đô (Huế) kể được 1.104 dặm. Danh tích Tỉnh nầy nguyên thuở đầu đời Hùng vương là bộ Giao Chỉ. Đời Tần là nước vua An Dương vương. Đời nhà Hán, nhàa Tùy là bộ Giao Chỉ Đời nhà Đường là An Nam đô hộ phủ, đời ấy mới xây Đại La thành. Đời nhà Đinh phân làm đạo. Đời nhà Tiền Lê phân làm lộ . Đời nhà Lý lập đô thành tại đó kêu là Nam Kinh, la vì vua Lý Thái Tổ thấy rồng đoanh thuyền ngự (rồng vây quanh lấy thuyền nhà vua) nên đặt tên là Thăng Long thành. Đời nhà Trần đổi tên là Trung Kinh. Đời nhà Minh chiếm lấy mà trị thì kêu là Đông Quan thành. Đời nhà Hậu Lê (Lê Lợi) kêu là Đông Kinh, rồi kêu Trung Đô, sau từ Lê Thuận Tông lại kêu là Đng Đô đối với Tây Đô là Thanh Hóa. Đời ngụy Tây Sơn kêu là Bắc Thành. Đời Gia Long làm ra trấn, phân đất bắc ra làm năm trấn trong là Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương; còn Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên, sáu trấn kêu là sáu trấn ngoài vì có Nùng ở xen. Đời Minh Mạng năm thứ 12 cải ra làm tỉnh, năm thứ 15 cải kêu 13 tỉnh đất bắc là Bắc kì Đời Tự Đức thứ 5 mới phân tỉnh ra. TỈNH HÀ NỘI Có 4 phủ 15 huyện 1) Hoài Đức phủ ĐT 19 dặm NB 40 dặm Đời Lê thì kêu là Phụng Thiên Phủ Đời Hán thì kêu là Lang Biên huyện Đời Tống thì kêu là Tống Bình huyện Sau gọi là Tống Bình quận. Lúc thuộc Minh thì gọi là Đông Quan huyện. Lê sau kêu là Vĩnh Xương. Đời Minh Mạng thứ 2 lãnh 8 tổng, 115 thôn, phường. Phủ nầy chia ra làm 2 huyện 1. Vĩnh Thuận huyện, 5 tổng, 40 thôn, phường, trại. 2. Từ Liêm huyện, 13 tổng, 82 xã, trang, thôn sở. 2) Thường Tín phủ, ĐT 20 dậm NB 54 dậm. Thành đất, châu vi 203 trượng, 2 thước, cao 7 thớc 2 tấc, hào rộng 3 trượng, cửa 3 cái. Đời Hán về Giao Chỉ quận, đời Trần sắp về trướ, Minh thì là châu Phước An, hậu Lê kêu là Thường Tín, Minh Mạng năm thứ 12 cho lãnh 3 huyện: 1. Thượng Phước huyện, 12 tổng, 82 xã,thôn 2. Thanh Trì huyện, 12 tổng, 100 xả thôn, phường, châu 3. Phú Xuân huyện, 11 tổng, 81 xã, thôn. 3) Ứng Hòa phủ, ĐT 74 dậm, NB 83 dậm. Thành đất, châu vi 271 trượng 2 thước, cao 7 thước 2 tấc, hào rộng 2 trượng, 2 thước 3 cửạ Đời Hán thuộc Giao Chỉ, đời nhà Lý làm ra Ứng Thiên phủ, Minh cải là Ứng Bình, Tự Đức năm thứ 5 cho lãnh 4 huyện: 1. Sơn Minh huyện, 8 tổng, 75 xã, thôn 2. Hoài An huyện, 4 tổng, 50 xã, thôn, phường, xã 3. Chương Đức huyện, 9 tổng, 60 xã, thôn, trại, sở 4. Thanh Oai huyện 12 tổng, 93 xã, thôn. 4) Lý Nhơn phủ, ĐT cư 56 dặm, NB 77 dặm. Thành đất rộng 329 trượng, cao 7 thước 2 tấc, hào rộng 5 trượng có 3 cửa. Đời Hán thuộc về quận Giao Chỉ, đời nhà Trần sắp về trước là châu Lợi Nhơn, Minh là phủ Giao Châu, Tự Đức năm thứ 5 cho lãnh 5 huyện: 1. Kim Bảng huyện 6 tổng, 57 xã, thôn, trang, sở 2. Duy Tiên huyện 6 tổng, 60 xã, thôn, trang 3. Thanh Liêm huyện 8 tổng, 63 xã, thôn, trang 4. Nam Xang huyện 9 tổng, 80 xã, thôn 5. Bình Lục huyện 4 tổng, 37 xã, thôn . Thổ sản Phủ Lý Nhân Ca Nam Xang nước lụt lắm ốc nhồi (lồi) Kim Bảng lươn bun mới dạo sôi, Thanh Liêm bỏm bẻm nhai trầu quạch (1) Bình Lục phì phào hút thuốc hôi Duy Tiên thịt thúi ba chiều chợ _________ (1) Nhai trầu quạch: quạch là một thứ rễ, vỏ ăn với trầu. HÌNH THẾ Hình thế tỉnh Hà Nội tốt lắm. Nó ở chính giữa các tỉnh Bắc Kì. Phía tây phía nam có núi non che án, đất bằng đai rộng, bên tả có sông Nhĩ Hà đoang quanh, bên hữu có sông Hạc Giang chảỵ Tỉnh ấy đã hơn 800 năm là đất cựu đế đô. (còn tiếp) *Cám ơn chị HSHB. Không được khoẻ lắm nhưng chưa ngũm vì bạn bè hiểu lầm khiẾn cho BN khốn đốn đứt ruột, thế thôi! Thân mến, Nct Bội Ngọc
<Edited by: NcT Bội Ngọc -- 4/5/2004 5:27:17 AM >
|
|
|
|
RE: CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký - 4/7/2004 10:59:28 PM
|
|
|
hshbo
Thành viên đang: offline
|
Trích đoạn: NcT Bội Ngọc vì bạn bè hiểu lầm khiẾn cho BN khốn đốn đứt ruột, thế thôi! Chuyện....thường ngày ở huyện mà anh BN. Chắc là có lầm mới có....thương hơn đó anh. Mến chúc anh tâm thân an lạc.
|
|
|
|
RE: CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký - 4/8/2004 8:00:46 PM
|
|
|
nvhn
Thành viên đang: offline
|
Đời nhà Trần đổi tên là Trung Kinh. Đời nhà Minh chiếm lấy mà trị thì kêu là Đông Quan thành. Đời nhà Hậu Lê (Lê Lợi) kêu là Đông Kinh, rồi kêu Trung Đô, sau từ Lê Thuận Tông lại kêu là Đng Đô đối với Tây Đô là Thanh Hóa. Đời [hl]ngụy[/hl] Tây Sơn kêu là Bắc Thành. Đời Gia Long làm ra trấn, phân đất bắc ra làm năm trấn trong là Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương; còn Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên, sáu trấn kêu là sáu trấn ngoài vì có Nùng ở xen. Đời Minh Mạng năm thứ 12 cải ra làm tỉnh, năm thứ 15 cải kêu 13 tỉnh đất bắc là Bắc kì Đời Tự Đức thứ 5 mới phân tỉnh ra. Chào anh NCT, Anh có ẩn ý gì khi anh dùng chữ ngụy cho đời Tây Sơn?
|
|
|
|
RE: CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT Hợi (1876) của Petrus Ký - 4/9/2004 9:22:13 AM
|
|
|
NcT Bội Ngọc
Thành viên đang: offline
|
Đời nhà Trần đổi tên là Trung Kinh. Đời nhà Minh chiếm lấy mà trị thì kêu là Đông Quan thành. Đời nhà Hậu Lê (Lê Lợi) kêu là Đông Kinh, rồi kêu Trung Đô, sau từ Lê Thuận Tông lại kêu là Đng Đô đối với Tây Đô là Thanh Hóa. Đời ngụy Tây Sơn kêu là Bắc Thành. Đời Gia Long làm ra trấn, phân đất bắc ra làm năm trấn trong là Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương; còn Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên, sáu trấn kêu là sáu trấn ngoài vì có Nùng ở xen. Đời Minh Mạng năm thứ 12 cải ra làm tỉnh, năm thứ 15 cải kêu 13 tỉnh đất bắc là Bắc kì Đời Tự Đức thứ 5 mới phân tỉnh ra. Chào anh NCT, Anh có ẩn ý gì khi anh dùng chữ ngụy cho đời Tây Sơn? mến chào anh Nvhn, Không phải NcT BN dùng chữ NGỤY đâu ! Ông P.Trương Vĩnh Ký viết như vậy đó mà. Chỉ nên xem đây là một trong các tư liệu lịch sử để tham chiếu thì tốt hơn ! Mến,
<Edited by: NcT Bội Ngọc -- 4/9/2004 5:23:54 AM >
|
|
|
|
Bài Mới |
Không có Bài Mới |
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) |
Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới) |
Khóa (có bài mới) |
Khóa (không bài mới) |
|
Đăng Đề Mục Mới
Trả Lời
Trưng Cầu
Ý Kiến của Bạn
Xóa bài của mình
Xóa đề mục của mình
Đánh Giá Bài Viết
|
|
Login|
khanhly.net|
Diễn Đàn Chính|
Bài hôm nay|
Bài mới|
Góc riêng|
Thư riêng|
Các thành viên|
Tìm kiếm|
Log Out
0.140
|